Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư

Tứ Yếu – Thập Dụ – Bát Pháp


Các sao phân phối đóng tại 12 cung, biến hoá vô cùng. Có bốn điểm trọng yếu để phân biệt :

a)       Cát hung – b) Hư thực – c) Chủ khách – d) Cường nhược.

Cát hung . Sao có sao thiện, sao ác ; thiện là cát tinh, ác là hung tinh. Hung hay cát không phải chỉ căn cứ trên tính chất mỗi vị sao mà còn căn cứ trên chỗ đứng của nó đúng hay sai, miếu địa hay hãm địa.

Hư thực thế nào ? Sao tốt làm miếu địa mới là thực cát, thực cát thì không hung dù gặp hung cũng chẳng sợ. Sao xấu rơi vào hãm địa mới là thực hung, thực hung thì không cát, dù gặp cát cũng khó lòng giải. Sao tốt ở hãm địa là hư cát, hư cát là không tốt, còn có thể biến cát thành hung. Sao xấu ở miếu địa là hư hung, hư hung là không hung, còn có thể biến hung thành cát.

Chia chủ khách ra sao ?

Lấy các sao ở bản phương lam chủ, các sao tại cung tam hợp hay xung chiếu là khách. Nếu như bản phương không có chính tinh tức không có chủ thì phải mượn sao ở cung xung chiếu làm chủ, các sao cung tam hợp làm khách. Trong trường hợp cả hai cung xung chiếu cùng vô chính tinh thì chỉ lấy sao khách mà luận cát hung.

Cường nhược đây ý nói cường nhược trong tương quan chủ khách. Khách với chủ đều tốt là khách chủ tương đắc hay khách chủ đều xấu là một bầy bạo ngược thì khỏi phải đặt vấn đề cường nhược. Chủ khách vừa hung vừa cát thì phải xét chủ mạnh hay khách mạnh. Nếu chủ mạnh thì khách theo chủ, nếu chủ yếu thì khách kéo chủ đi. Cát cường cát thắng, hung cường hung thắng.

Thập dụ là gì ? là mười điều căn bản cho việc xem số ở mỗi cung cung với cát cung tam hợp và cung xung chiếu :

1.   Bản phương tốt (cát) là / do nội tự cường/ mạnh từ bên trong mạnh ra.

2.   Bản phương xấu (hung) là /tòng căn tự phạt/ hư từ gốc rễ.

3.   Cung xung chiếu tốt là /nghênh xuân tiếp phúc/ chờ xuân đón phúc.

4.   Cung xung chiếu xấu là /đương đầu ác bổng/ giơ đầu chịu búa đập.

5.   Cung tam hợp tốt là /tả hữu phùng nguyên/, lắm chân tay giúp đỡ.

6.   Cung tam hợp xấu là /tả hữu thụ địch/, địch từ bên phải, bên trái đánh tới.

7.   Lân phương (cung đằng trước đằng sau) tốt là /lưỡng lân tương phù/ hai bên hàng xóm phù trợ.

8.   Lân phương xấu là /lưỡng nan tương vũ/, hai bên hàng xóm mưu hại.

9.   Cả bốn cung cùng tốt là /thiên tường vàn tập/, mây ngũ sắc kéo về chầu.

10. Cả bốn cung cùng xấu là /tứ diện sở ca/ bị vây tứ phía không lối thoát.

Bát pháp là tám lối định cách cục khi xem số. Mệnh ai cũng thế, đều có cách cục ví như hình vuông, hình tròn, to nhỏ, đẹp xấu, lành vỡ của đồ vật. Cách cục của số mệnh nói cho hết thì nhiều vô cung nhưng đây dùng lối quy nạp để đưa thành tám lối. Chia ra như sau :

A.  Thành phá tứ pháp : phàm lệnh thân bản phương có sao tốt gặp các sao khác ở cung tam hợp và xung chiếu nếu gặp :

-        Khoa Quyền Lộc Quý thì kể như các cục thành, đáng phê mấy chữ /giao Long đắc vận vũ/ (con rông gập mây nước).

-        Nếu gặp tứ hung Hỏa Linh Dương Đà thì kể như phá cách loại /miêu nhi bất tú/(chỉ nẩy mầm mà không xanh tốt).

-        Nếu vừa gặp tứ hung lẫn tứ cát thì kể như trong thành có phá, chẳng khác chi /bạch khuê hữu điềm/ (viên ngọc trắng bị vết nứt, vết mẻ).

Cả tứ hung lẫn tứ cát đều không thi kể là cách chưa thành nhưng không bị phá, chờ xem hạn ra sao giống như /hỗn kim phác ngọc/

(vàng còn lẫn các khoáng chất tạp nhạp, ngọc chưa được lấy khỏi đá).

B.  Cứu Khí tứ pháp : Phàm mệnh thân cung mà các xung cung chiếu tam hợp đều có hung nếu :

-        Gặp Lộc Quí Quyền Khoa là cứu cách, hạn hán lâu ngày được cơn mưa /cửu hạn phùng cam vũ/.

-        Gặp Hoả Linh Dương Đà là khí cách (bỏ đi), cây gỗ mục không thể khắc đẽo gì được, /hử mộc nan điêu/.

-        Gặp vừa tứ cát vừa tứ hung là vừa cứu vừa khí cách, giống như ăn gân gà /thực kê lặc/.

-        Không gặp cả tứ cát lẫn tứ hung là cách /thủ tàu bảo khuyế t/, nấn ná đợi thời.

Bình luận