Trảm Long - Trọn Bộ 4 Tập

Tập 4 - Chương 6: Tự Phá Mộ Tổ


Sau khi A Đồ cách cách xuống núi, quân Thanh bèn gỡ trại lui binh ngay trong ngày. Hồng Tuyên Kiều thoạt tiên phái thám tử bám theo lộ trình rút lui của quân Thanh, lại đợi thêm nửa tháng nữa, tới khi nhận được tin các lộ thám báo đưa về, nói quân Thanh quả thật đã đi xuống phía Nam trở về Quảng Châu, họ mới thong thả xuống núi, theo đường Hồ Nam tiến vào Giang Tây, rồi men theo Cống Giang đi về phía Bắc nhắm hướng Trường Giang. Giờ đương lúc đầu đông, nữ quân chỉ chọn đường núi vắng vẻ không người mà đi, lá vàng trên núi còn chưa rụng hết, gió bấc mới nổi, quét hết mây mờ, khiến bầu trời trong vắt không một gợn mây, đi giữa rừng núi phong cảnh đẹp đẽ, khiến lòng người cũng thư thái nhẹ nhàng. Vì không có quân vụ trọng yếu, cũng chẳng bị quân địch truy đuổi, nên họ cứ đi rồi lại dừng, vừa đi vừa nghỉ ngơi, hành quân rất thong dong thoải mái, tròn một tháng mới tiến vào vùng núi ngoài rìa phía Tây huyện Cát An, Giang Tây.

Bước vào địa giới Cát An, Lục Kiều Kiều trở nên sôi nổi khác thường, luôn miệng giới thiệu phong tục, đặc sản và lịch sử văn hóa của Cát An với các tướng sĩ bên cạnh. Lục Kiều Kiều và Hồng Tuyên Kiều cùng ngồi trong xe ngựa, khi nữ quân từ vùng núi tiến vào một thung lũng chỉ còn cách phủ Cát An chừng một ngày đường, cô nói với Hồng Tuyên Kiều: “Phía trước là trấn Điếu Nguyên, có rất nhiều món ngon và thú vui, chúng ta cho quân đóng trại tại đây, để các chị em chia nhau đến Điếu Nguyên dạo phố mua đồ được không? Chúng ta cũng có thể vào làng chơi.”

Hồng Tuyên Kiều bị vây trong núi suốt nửa năm, đã thèm dạo phố đến phát cuồng, vừa nghe nói liền sáng mắt lên: “Sao cô chẳng bảo sớm?” Dứt lời ngồi trong xe giơ ngay ra một ngọn cờ vàng, toàn quân tức thì dừng lại. Hồng Tuyên Kiều lại hỏi: “Một thị trấn bé bằng bàn tay thế này, nếu hai ngàn mỹ nữ của chúng ta cùng kéo vào, chẳng phải sẽ chen đổ cả cửa hàng của người ta sao?”

Lục Kiều Kiều cười khanh khách, cởi bộ đồ tướng quân đỏ rực, thay sang bộ kỳ bào xanh lục: “Trấn Điếu Nguyên tuy gọi là trấn nhưng cũng rộng rãi lắm, phú thương bản địa đều dồn cả về đây, diện tích phải bằng nửa phủ Thiều Châu đấy, người trong đó ước chừng chẳng được một vạn cũng phải tám ngàn. Các thương gia Giang Hữu[60] kiếm tiền ở bên ngoài rồi lại phung phí hết vào đây, trong trấn san sát nhà cao cửa rộng, đầy rẫy đình đài lầu gác, những thứ quần áo gấm lụa son phấn tốt nhất đẹp nhất trong thiên hạ chẳng thiếu món gì, sơn hào hải vị ở đây chỉ như cơm bữa, gánh hát, lầu xanh, hiệu buôn Tây xếp thành hàng dài dọc theo bờ sông, trời vừa sập tối, trên phố đã chen vai thích cánh đông nghẹt, vô cùng náo nhiệt, được gọi là Tiểu Nam Kinh của Giang Tây đó.”

Hồng Tuyên Kiều nghe được nửa chừng đã hối hả thay đồ, vừa thay vừa nói: “Hiện giờ quân Thanh chặn đánh Thiên quân ở khắp nơi, chúng ta phải cẩn thận một chút, tôi với cô đi trước thăm dò… Đúng rồi, phải mang bao nhiêu tiền đây?”

Lục Kiều Kiều lại phá lên cười, tít cả mắt: “Ha ha… Nhìn chị sốt ruột chưa kìa, định vơ một nắm son thơm phấn đẹp về dùng chứ gì? Tôi nắm rõ tình hình ở đó nên có thăm dò hay không cũng chẳng sao, trấn Điếu Nguyên bốn bề là núi, song có thể vận hàng theo đường Lư Giang vào, giữa trấn còn có dãy Trường An hình dáng như rắn, chia đôi thị trấn, từ trên cao nhìn xuống trông như một tấm Thái Cực đồ vậy, nhà cửa trong trấn cũng được bố trí theo tượng quẻ Ly.”

Hồng Tuyên Kiều khoác kỳ bào vào, cài nút xong xuôi mới hỏi: “Ồ? Đặc biệt quá nhỉ, địa thế phong thủy nơi đó tốt lắm ư?”

“Xây trấn theo hình Thái Cực đồ chẳng liên quan gì tới việc phong thủy tốt hay không, nếu cứ xây thành Thái Cực thì được phong thủy tốt, vậy tất cả thành thị thôn làng đều xây như thế là xong, còn cần phong thủy sư tầm long điểm huyệt làm gì? Có điều thị trấn xây theo bố cục quẻ Ly thuộc hỏa thì cũng khó nói lắm, quẻ tượng do trời sinh, lấy hình ý biểu thị dữ lành, năm nay lại là Nhâm Tý đại thủy, nên nơi này xây theo quẻ Ly thành ra bất lợi vô cùng.”

Hồng Tuyên Kiều vội vã xoa phấn lên mặt, lại lục tung xe ngựa tìm bạc nhét đầy túi thơm, tiện miệng đáp: “Vậy bị thủy khắc hỏa ư, chuyện này đến tôi cũng biết. Trời sắp tối rồi, cho họ cắm trại nấu cơm đi, chúng ta vào trấn ăn tối nào, nhanh lên nhanh lên.”

Thấy hai người trang điểm lộng lẫy bước xuống xe, các nữ tướng đều giật nảy mình, nhưng cả hai chỉ cười không nói, kêu thân binh dẫn tới hai con lừa, rồi hối hả băng qua thung lũng đi về phía trấn Điếu Nguyên.

Vượt qua mấy ngọn núi, họ phát hiện dọc đường càng lúc càng nhiều dấu vết giao chiến, trên cây đầy vết đao tên và đạn găm, mặt đất cũng nhan nhản những hố pháo to bằng cái đấu. Vượt qua đỉnh núi này là đến trấn Điếu Nguyên, song cảnh tượng trước mắt càng khiến họ thêm kinh ngạc. Trước mặt họ đúng là một bức Thái Cực đồ thiên nhiên cực lớn, dãy núi uốn lượn như rắn bò nằm vắt ngang qua thị trấn đã cháy thành tro bụi, toát lên vẻ quỷ dị vô cùng. Bên ngoài thị trấn đắp một lớp tường đất bảo vệ, khắp nơi trong trấn đều cháy đen, chỉ riêng một dãy nhà mái bằng lè tè ở phía Nam không bị lửa thiêu. Họ vội thúc lừa chạy như bay đến trung tâm thị trấn, thấy nơi nơi đều là cảnh hoang tàn đổ nát, ngói vỡ tường nghiêng ngổn ngang, trên dòng sông nhỏ lềnh bềnh đầy những đồ gia dụng linh tinh đã tan tành, từ đống đổ nát, có thể lờ mờ hình dung được vẻ phồn hoa khi trước, chỉ tiếc giờ đây đã trở thành một thị trấn bỏ hoang không người cư trú.

Lục Kiều Kiều và Hồng Tuyên Kiều lòng đầy nghi hoặc, chẳng rõ nơi này đã xảy ra chuyện gì? Họ lại chạy đến dãy nhà thấp lè tè còn lại ở phía Nam, nhưng mười nhà thì hết chín bỏ không, trong nhà lộn xộn bừa bãi, như từng bị cướp bóc, dăm ba nhà còn lác đác ít đồ dùng cũng chẳng thấy ai sống bên trong, có thể nói nơi này đã thành một vùng đất chết.

Hồng Tuyên Kiều nhặt một thanh đao lưỡi mẻ nham nhở dưới đất lên, hỏi: “Kẻ nào lại tấn công vào đây nhỉ?”

Đôi mày Lục Kiều Kiều cau rúm lại, cô đưa mắt nhìn quanh, rồi sờ sờ lỗ đạn trên tường: “Ít nhất cũng phải mấy ngàn người giao chiến, từ đánh vào công sự đến chiến đấu trên đường phố, trận này ác liệt quá…”

“Không phải Thiên quân chứ? Chẳng phải Thiên vương và Đông vương đang dẫn quân tiến lên phía Bắc đấy ư? Chúng ta là đội quân đoạn hậu sau cùng rồi.”

Lục Kiều Kiều lắc đầu đáp: “Cũng khó nói lắm, hiện giờ khắp nơi trong thiên hạ đều là thổ phỉ, chỉ cần mấy trăm người hợp lại là thành một toán quân, chiếm cứ một vùng, xưng vương đánh thiên hạ, năm xưa Hồng binh ở Quảng Đông chẳng phải cũng dựa vào một làng một trại thế này mà đánh rộng ra ư.”

“May mà không dẫn cả đám chị em đến, nếu không mọi người lại thất vọng. Giờ phải mau mau đến được Cát An, cô vẫn luôn nói muốn tiện đường qua đó làm một việc, rốt cuộc là việc gì vậy?”

Lục Kiều Kiều đáp: “Đâu có gì, tôi chỉ muốn qua thăm lại căn nhà cũ của dòng họ. Từ đây đi về phía Đông năm mươi dặm là phủ Cát An, trước phủ Cát An có dòng Cống Giang chảy qua, vượt qua Cống Giang chính là núi Thanh Nguyên, đằng sau núi là nhà thờ tổ nhà tôi. Nếu chúng ta muốn đến Nam Xương, đường núi hẻo lánh đều nằm ở bờ bên kia, đằng nào cũng phải qua Cống Giang, nên tôi muốn tiện đường làm chút việc.”

“Ra thế, có điều hai ngàn người chúng ta kéo theo dao, súng, xe, pháo ngang qua phủ Cát An, khó tránh phải ác chiến với quân Thanh một trận, tôi nghĩ nhân lúc đêm tối ta lén vượt qua cửa sông không ai canh gác là hơn.”

Lục Kiều Kiều nhoẻn cười với Hồng Tuyên Kiều: “Được thôi, cứ làm theo sắp xếp của chị.”

Sau khi quay về, hai người lập tức sắp xếp đội tiền trạm tập hợp thuyền bè ở hạ lưu Cống Giang phủ Cát An, đến hôm sau thì kéo quân từ trong vùng núi vắng người sang bờ Tây Cống Giang. Chờ khi đêm xuống, nữ quân bắt đầu trật tự mà nhanh nhẹn vượt sông, chỉ nửa buổi đêm, toàn quân đã thuận lợi đến dưới núi Thanh Nguyên ở bờ bên kia Cống Giang, đối diện với phủ Cát An.

Lục Kiều Kiều thông thuộc địa hình Cát An như lòng bàn tay, cô dẫn dắt nữ quân bên bờ Tây Cống Giang vòng qua phủ Cát An và đội phòng thủ của quân Thanh, vượt sông từ bến Trương Gia ở Hạ Du, sang bờ bên kia là đến sau núi Thanh Nguyên. Từ bến Trương Gia đi lên phía Bắc sẽ tiến vào một dải đất hẹp mà dài, nơi này bên trái là sống núi Thanh Nguyên, bên phải là dãy Tung Hoa, mộ tổ Phượng hoàng dang cánh của nhà họ An nằm ngay tại long huyệt núi Tung Hoa. Vốn dĩ dải đất hẹp dài này đã bị núi Thanh Nguyên ngăn cách, từ phủ Cát An nhìn sang không thấy được tình hình bên này, nên con đường hẻo lánh nơi đây rất thích hợp để đại quân đi qua; song dãy núi cao vút hai bên đường lại cũng thích hợp đặt binh mã mai phục, là một nơi cực kỳ nguy hiểm dễ bị đánh úp, theo nguyên tắc hành quân tác chiến thì sau khi vượt sông phải nhân lúc nửa đêm băng qua khu vực này thật nhanh rồi lẻn vào rừng núi, hoặc theo phương thức hành quân trước đây của nữ quân, tránh tất cả đường lớn, chỉ đi theo đường mòn trong rừng, song Lục Kiều Kiều lại có dự tính khác.

Sau khi qua sông, dưới sự chỉ huy của Lục Kiều Kiều, nữ quân mau chóng chiếm lĩnh một ngọn núi, trong lúc quân sĩ bắc lều dựng trại ngủ qua đêm, Lục Kiều Kiều và Hồng Tuyên Kiều lên đỉnh núi quan sát địa hình. Để tránh bị quân Thanh phát hiện dẫn tới chiến đấu không cần thiết, toàn quân không hề thắp lửa, không có việc gấp thì không trò chuyện, nếu nói chuyện phải nói thật khẽ, để người thứ ba không nghe thấy được. Mượn ánh sao trời, Hồng Tuyên Kiều trông xuống dải đất tối om, song chỉ thấy bóng núi lờ mờ, không sao trông rõ được cảnh tượng bên dưới.

Lục Kiều Kiều trỏ trái chỉ phải, rồi nói nhỏ như tiếng muỗi vo ve: “Kia núi Thanh Nguyên, kia núi Tung Hoa.”

Hồng Tuyên Kiều ghé tai Lục Kiều Kiều hỏi khẽ: “Đạo long mạch ở giữa đâm thẳng về phía chúng ta kia hình như là rồng lưng kiếm? Chính là loại cô nói lần trước, ‘sát sư sẵn ở trong’ đó.”

“Đó không phải long mạch, chỉ là án sơn của núi Tung Hoa thôi, phong thủy gọi là Nga Mi án.”

“Án sơn là gì?”

“Án sơn chính là ngọn núi nhỏ nằm trước long huyệt, thấp hơn long huyệt một chút, từ long huyệt nhìn ra, án sơn càng giống một bàn trà nhỏ càng tốt, như vậy thì con cháu đời sau có bổng lộc, đủ ăn đủ mặc, không lo chết đói.”

Hồng Tuyên Kiều giương to mắt quan sát ngọn án sơn đằng xa hồi lâu, rồi bảo Lục Kiều Kiều: “Tôi nhìn thế nào cũng không thấy giống bàn trà, cô xem, sống lưng sắc bén chạy từ Nam đến Bắc thế kia, bây giờ còn không trông rõ được đâu là đầu, rất giống rồng lưng kiếm.”

“Ừm, chị mới tới đây lần đầu nên không biết đấy thôi, cứ đi lên núi Tung Hoa, nhìn từ bên cạnh sang sẽ trông thấy đầu, cũng thấy rất giống một bàn trà lớn, ngọn án sơn này vừa khéo nằm ở lối ra khe núi Tung Hoa, tạo thành một tấm bình phong chắn cho khe núi, hệt như bức chiếu bích sau cửa các nhà giàu có ấy.” Đoạn Lục Kiều Kiều cũng bắt đầu quan sát cảnh tượng Hồng Tuyên Kiều bảo, giờ mới đầu đông, lá trên núi bắt đầu rụng, những ngọn núi xung quanh cũng không còn xanh ngắt một màu, nhưng trên án sơn lại lởm chởm đất đá, sống núi trơ trọi trông từa tựa một chiếc cột sống không có cơ thịt, chỉ trơ ra mỗi phần xương, hệt như một con rồng lưng kiếm ẩn tàng đất sát sư.

Lục Kiều Kiều cảm thấy có điều không ổn, cau mày nghĩ ngợi hồi lâu mà chẳng tìm ra được nguyên do, bèn moi một quả ô mai trong ngực áo ra ngậm: “Núi non nhìn dọc và nhìn ngang cũng khác nhau, nếu hình dáng vuông vắn thì đều là đất phú quý, đại cát đại lợi. Ví như ngọn Nga Mi án này, hình dáng dài như lông mày mỹ nữ, có thể sinh ra đời sau văn võ song toàn, dung mạo đẹp đẽ đó.”

“Nhìn từ án sơn cũng đoán được sinh nam sinh nữ ư?”

“Đoán nam nữ đâu có dễ thế, có điều hình dạng án sơn và các gò đồi trước mộ tổ quả có ảnh hưởng đến nghề nghiệp của đời sau. Ví như Văn Bút sơn cao thẳng, con cháu ắt phát ngạch văn chương, thi cử đỗ đạt, Bội Đao án thẳng mà bằng phẳng mạnh mẽ, đời sau sẽ phát đường binh nghiệp, làm đến tướng quân, nếu có ngọn núi nhỏ trông như cái hồ lô nằm ngang, đời sau sẽ sinh ra thuật sĩ thông thạo bói toán y thuật, nếu trước mộ có tảng đá hình dạng như thi hài nằm ngang, sẽ khiến con cháu về sau chết thảm ở quê người. Ngọn Nga Mi án này không có cây cối gì, thế núi sắc nhọn tan nát lộ ra sẽ sản sinh sát khí, chuyển thành Sát Đao án…” Lục Kiều Kiều nói đến đây chợt ngây ra.

Hồng Tuyên Kiều không hề biết trên ngọn án sơn này chính là mộ tổ của Lục Kiều Kiều, Sát Đao án ắt sinh con cháu giặc cướp, phạm vào họa kiếp sát. Hơn nữa án sơn trải dài mười dặm lại vì hoàn cảnh thay đổi mà trở thành sát khí, dù không phải mạch chân long, song sát khí sinh ra cũng ảnh hưởng đến các vùng lân cận. Trán Lục Kiều Kiều chợt vã mồ hôi lạnh, lòng trống rỗng đến mức nảy sinh một dự cảm chẳng lành, liệu có phải mình trúng kế rồi không?

Hồng Tuyên Kiều tò mò hỏi: “Chuyển thành Sát Đao án thì sao?”

Lục Kiều Kiều khẽ đáp: “Con cháu sẽ làm giặc cướp, nơi này sẽ thành đất dữ, về sau chiến loạn ở đây sẽ càng lúc càng ác liệt… Không biết có phải có cao thủ phong thủy bố trí mai phục không, chúng ta phải cẩn thận mới được.”

“Nơi này vốn là đất đại kỵ với nhà binh, phía trước có khe hẹp dài bốn mươi dặm, chúng ta phải mau mau băng qua mới được, có điều trời tối quá.”

Lục Kiều Kiều nói: “Phải, nếu quân Thanh chặn đánh cả trước sau ắt ta sẽ bị diệt hết toàn quân, nhưng nếu bây giờ dời doanh về phía núi Tung Hoa cũng sợ trên núi có mai phục, chúng ta đợi trời sáng lên một chút rồi xem xét tình hình sau vậy.”

Hai người không dám nghỉ ngơi, chỉ ngồi trên đỉnh núi đợi trời sáng, giờ đã chớm đông, trời càng ngày càng lâu sáng, mới một canh giờ ngắn ngủi mà như đã qua cả một ngày. Khi sắc trời hơi chuyển xanh lam, cả hai bỗng sững sờ vì cảnh tượng trước mặt: Nga Mi án vốn xanh biếc một màu, vô cùng đẹp đẽ, nay đã bị đốt trụi, thành ngọn núi hoang, hệt như một ngọn loan đao cực lớn gác trước khe núi Tung Hoa; giữa con đường hẹp thông lên phía Bắc lù lù một hàng doanh trại quân Thanh, chưa kể đám quân Thanh đông đúc tập trung bên bờ Lang Giang phía Nam, trước sau đều có quân Thanh bày binh bố trận từ từ áp sát, khép chặt vòng vây, còn cả quân Thanh theo dòng Cống Giang ùn ùn vượt sông kéo sang, rõ ràng là viện binh từ phủ Cát An phái tới.

Từ khi cầm quân đánh trận đến nay, Lục Kiều Kiều chưa bao giờ phạm phải sai lầm lớn nhường này, bởi trước mỗi lần tác chiến, cô đều đích thân đi thám thính địa hình. Song lần này ỷ đây là quê nhà, cô cho rằng mình đã rành rẽ hình thái địa hình như lòng bàn tay nên bỏ qua bước khảo sát lại thực địa, nào ngờ địa lý đã thay đổi, phong thủy cũng biến cải, đạo dùng binh của cô cũng bị ảnh hưởng vì thế.

Lục Kiều Kiều kinh hoàng nhìn Hồng Tuyên Kiều, bắt gặp Hồng Tuyên Kiều cũng đang cau rúm mày liễu nhìn xuống núi. Lục Kiều Kiều ngoảnh lại nhìn quân đội đằng sau, thấy các nữ binh đã đứng dậy cả chỉnh lại y phục, thắt chặt đai lưng, kiểm tra đao súng, cứ xem tình thế này, ai nấy đều hiểu vận mệnh nào đang chờ bọn họ.

Hồng Tuyên Kiều lạnh lùng hỏi: “Lục tướng quân, cô có sách lược gì để đối phó không?”

Gió sớm mai trên núi rất lạnh, song trước nguy cơ khổng lồ thình lình hiện ra trước mắt, Lục Kiều Kiều vã hết mồ hôi, cô cởi tấm áo bào đỏ rực quấn quanh mình ra, đáp: “Vòng vây của đối phương nhất định đã được bày sẵn, kẻ có thể làm chuyện này nhất định không phải tướng lĩnh bình thường, chúng ta cũng không thể dùng cách thông thường đối phó được. Đối phương có sáu bảy ngàn người, chúng ta chỉ có hai ngàn, xét quân số thì rút vào núi chiến đấu sẽ có lợi cho ta nhất, mục đích cuối cùng của trận chiến này là dồn ta rút vào trong núi.”

“Đánh thẳng xuống thì sao?”

“Con đường hẹp dẫn lên phía Bắc kia bên trái có núi Thanh Nguyên, phải có núi Tung Hoa, trước mặt có doanh trại quân Thanh, tạo thành một cái túi vải, chúng ta đương nhiên không thể đâm đầu vào đó. Thực ra chúng ta chỉ có một con đường là đánh giết xông xuống Lang Giang phía sau, đẩy đám quân Thanh bên bờ sông xuống nước, rồi tức tốc tiến vào vùng núi Tung Hoa.” Lục Kiều Kiều lại trỏ xuống khe núi Tung Hoa phía sau Sát Đao án: “Đánh từ dưới lên trên, giành lấy chỗ cao, vừa đi vừa phóng hỏa, tạo thành một con đường lửa, thử xem chúng làm sao đuổi theo, bọn chúng đốt núi tạo ra Sát Đao án, bố trí cạm bẫy, chúng ta đốt luôn cả khe núi này bồi táng cho chúng.”

“Hay lắm!” Hồng Tuyên Kiều nhảy lên tảng đá cao nhất trên đỉnh núi, rút đao cao giọng: “Các chị em, rút đao ra đi!”

Hai ngàn nữ binh nghe nói đồng loạt rút đao giơ lên, dưới ánh mặt trời mới mọc, bóng đao loang loáng như một vùng biển đỏ rực, tiếng hô đinh tai nhức óc như một câu trả lời mạnh mẽ đáp lại Hồng Tuyên Kiều.

Hồng Tuyên Kiều lại hô vang: “Khi mặt trời lên đến đỉnh đầu, ta sẽ nhuộm máu hai ngàn thanh đao này, mang sang đỉnh núi bên kia!”

Lập tức đỉnh núi rền vang tiếng trống trận, cờ đỏ phất cao. Sau khi Hồng Tuyên Kiều nhanh chóng cắt đặt chiến lược cho ba quân, ba toán quân tiền, trung, hậu dàn ra thành ba cánh trái, phải, giữa, chia ba đường dàn hàng đánh giết xông tới bên bờ Lang Giang.

Chiến thuật thông thường của quân Thái Bình là chia binh làm mấy đường, bố trí mai phục tầng tầng lớp lớp, song chiến lược lần này lại là dời trại thật nhanh, đưa toàn quân đến nơi an toàn, nên Hồng Tuyên Kiều không để một ai rớt lại phía sau, hơn nữa quân số nữ quân ít hơn quân Thanh rất nhiều, bởi vậy Hồng Tuyên Kiều quyết định tập trung binh lực lại một chỗ, toàn lực xung kích. Lần này toàn quân chia làm ba đường nhất tề xông ra, trận thế nhìn có vẻ cứng nhắc không linh hoạt, thực ra lại biến hóa vô cùng, ẩn giấu sát cơ.

Sau khi xuống núi, ba quân dàn hàng ngang thành hình chữ nhất, xông thẳng về phía kẻ địch bên bờ Lang Giang. Quân Thanh đã bày sẵn trận thế phòng ngự, trong trận ước chừng có khoảng hai ngàn người, xấp xỉ bằng nữ quân. Khi đã áp sát quân Thanh trong tầm bắn của súng Tây, nữ tướng xinh đẹp Hồng Tuyên Kiều mình vận chiến y bó chẽn bằng gấm vàng, vai khoác áo choàng đỏ dẫn một toán người ngựa từ trung quân xông ra, mấy trăm nữ binh vừa rạp người trên lưng ngựa phi như bay, vừa nổ súng lao đến. Lính Thanh chưa từng thấy kẻ nào dám cưỡi ngựa bắn súng xông vào trận địa, hơn nữa còn bắn chuẩn xác vô cùng, hỏa lực vượt xa mức mấy trăm người có thể tạo ra, trong cơn hoảng loạn, quân Thanh theo lệ cũ, liên tiếp nổ súng phòng ngự, song chỉ được một hai đợt, đã có rất nhiều tay súng của quân Thanh ngã xuống.

Trong chớp mắt, toán người ngựa đã ập đến trước mặt, bấy giờ quân Thanh mới kinh ngạc nhận ra, đối thủ của chúng toàn những cô gái trói gà không chặt, đồng thời cũng phát hiện một chuyện xưa nay chưa từng thấy, thì ra trên mỗi thớt ngựa đều có hai nữ binh, hai khẩu súng, lúc ấy chúng mới hiểu tại sao ba trăm thớt ngựa lại có thể sản sinh ra hỏa lực mạnh nhường ấy, ra là có đến sáu trăm khẩu súng. Phụ nữ nhỏ nhắn hơn nam giới, trọng lượng cũng nhẹ hơn, hai cô gái cưỡi chung một con ngựa, chẳng những không ảnh hưởng tốc độ, mà còn làm sai lệch phán đoán của quân Thanh về uy lực tấn công.

Đội súng Tây của quân Thanh lũ lượt lùi lại sau, đội khiên vẫn yểm hộ các tay súng lập tức xông lên chĩa khiên về phía các nữ binh tiếp chiến, định vây toán quân mã lại, trên thì đâm người dưới thì chém ngựa, hòng chia cắt đội ngũ nữ binh ra để chém giết. Song Hồng Tuyên Kiều không hề ỷ vào ngựa để phá trận súng Tây, đội súng Tây của quân Thanh vừa thoái lui, cứ hai nữ binh trên lưng ngựa lại có một người nhảy xuống, những nữ binh xuống ngựa đều cầm đao thương và khiên, nữ binh trên ngựa lưng giắt hai khẩu súng Tây, thúc ngựa chạy về trung quân phía sau, chẳng để lại thứ gì kỷ niệm cho quân Thanh. Các nữ binh xuống ngựa cứ mười người hợp thành một tổ, kết thành trận Uyên Ương, mười trận Uyên Ương lại kết thành một trận Uyên Ương lớn, trong chớp mắt, ba thế trận Uyên Ương lớn đã xuất hiện trước trận địa quân Thanh.

Dưới sự huấn luyện của Dương Tú Thanh, quân Thái Bình luôn lấy trận Ngũ Hành do năm người hợp thành làm đơn vị chiến đấu cơ bản, song trước những đặc điểm của phụ nữ như thể lực không đủ, khí phách cũng không bằng nam giới, Hồng Tuyên Kiều đã đổi đơn vị chiến đấu cơ bản của nữ quân thành mười người, hợp thành trận thế Uyên Ương mà danh tướng thời Minh Thích Kế Quang từng dùng đánh cho giặc Oa thua liểng xiểng.

Trận Uyên Ương của Thích Kế Quang gồm mười một người xếp thành hai hàng, một tráng binh đi đầu làm đội trưởng, giơ thuẫn dài xông lên trước tiếp chiến, hai bên trái phải có các tay đao cầm khiên mây bảo hộ người cầm thuẫn dài, phía sau lại có một hàng lính cầm lao để phá giải trường thương của đối phương trong trận, sau nữa là một hàng lính cầm trường thương bảo vệ những người cầm đao và lao phía trước, sau cùng là bốn kẻ vác xoa dài hoặc lang tiễn[61] phối hợp với đám lính cầm trường thương phá giải đao pháp Nhật Bản của giặc Oa.

Song quân Thái Bình phải đối phó với quân Thanh chứ không phải giặc Oa, lang tiễn quá nặng, không thể phát huy tác dụng, thứ nữa là các nữ binh sức lực có hạn, khó mà vận dụng, bởi vậy trong trận Uyên Ương của Hồng Tuyên Kiều, nhóm năm người đầu tiên cầm các loại binh khí giống hệt trận Uyên Ương của Thích Kế Quang, nhưng năm người sau lại đổi thành bốn nữ binh dùng đao, cứ hai người dùng chung một ngọn thương tre dài hơn trượng, chuyên đối phó với đội ngựa của quân Thanh, đồng thời gia tăng sức tấn công cho năm người phía trước, sau cùng là một tay đao bảo vệ cho bốn người đằng trước.

Ba trận thế Uyên Ương lớn xếp thành trận hình con cua trước hai sau một, thong thả tiến lên giữa rừng đao bể kiếm của quân Thanh, như một cỗ chiến xa không gì không phá nổi, những nơi bánh xe lăn qua, đều để lại một con đường bê bết máu thịt. Trong trận Uyên Ương, khi một nữ binh bị tấn công, các đồng đội trong trận sẽ ra tay cứu viện, mỗi lần cứu viện đều là một lần tấn công mau lẹ mà hiệu quả, với loại trận pháp mạnh mẽ trên bộ này, huấn luyện được những nữ binh có tố chất thì chẳng phải lo lắng gì phía sau nữa, mỗi trận Uyên Ương nhỏ đều có thể nhịp nhàng giết địch. Rơi vào trận thế con cua do các trận Uyên Ương hợp thành, quân Thanh nhất loạt biến thành bia sống, hơn một ngàn người bị mấy trăm người bao vây tấn công cả ba mặt, khiến tướng chỉ huy phía sau của quân Thanh kinh hoàng, lập tức điều động hậu quân bao vây ba trận Uyên Ương lớn, song ý đồ ấy vừa khéo hợp ý Lục Kiều Kiều.

Khi tất cả quân Thanh đều xông lên chiến đấu với ba trận thế Uyên Ương lớn của Hồng Tuyên Kiều, hai cánh nữ quân trái phải vừa tụt lại phía sau lập tức chém giết đến, từ hai cánh nhắm vào toán quân Thanh đánh bọc sườn, phối hợp với tiền quân của Hồng Tuyên Kiều hình thành một vòng vây lớn, như một chiếc túi vây bọc tất cả quân Thanh vào trận thế con cua khổng lồ, thế cục đối kháng chẳng mấy chốc đã biến thành tiêu diệt. Nữ quân ngùn ngụt khí thế, phấn chấn tắm trong bể máu, quân Thanh vốn định kháng cự đợi viện binh đến hỗ trợ song lại bị đánh tan tành, non nửa còn lại bị nữ quân xua xuống Lang Giang đầy lính Bát Kỳ đang vùng vẫy bên dưới.

Lần này nữ quân giành thắng lợi mà thương vong rất thấp, Hồng Tuyên Kiều lập tức cho ba quân vượt qua Sát Đao án tiến thẳng về phía núi Tung Hoa. Phía sau vẫn có mấy ngàn quân Thanh đuổi riết, song chúng đuổi đến nơi chỉ thấy một con đường cháy rực lửa đỏ, chiến thuật bám đuôi liền tan rã. Quân Thanh dường như nắm rất rõ hướng tiến quân của nữ quân, tức thì chuyển hướng xuống núi, từ chân núi tiến về phía Bắc, song song truy kích.

Đầu đông, tiết trời khô hanh, lửa cháy rất đượm, sau khi phóng hỏa đốt núi, nữ quân cũng vội vã rút vào trong núi với tốc độ như bị lửa đốt mông. Hồng Tuyên Kiều và Lục Kiều Kiều đi phía sau áp trận, đứng trên cao nhìn xuống khe núi lửa bốc ngút trời, thấy quân Thanh đang điều quân tiến về phía Bắc, cũng thấy cả quân Lục Doanh từ phủ Cát An vượt sông sang, đóng trại ngay tại bãi chiến trường vừa nãy, một mặt cứu những thương binh và quân Bát Kỳ bị đẩy xuống nước, một mặt nghênh ngang cắm trại bày trận.

Hồng Tuyên Kiều lau vết máu trên mặt, hỏi: “Đám người đó làm gì vậy? Quân Bát Kỳ chuồn hết rồi, bọn Lục Doanh lại liều mạng đến cùng, đúng là kỳ lạ.” Lục Kiều Kiều cười nhạt: “Hừm, có gì mà lạ, nếu trong quân của chúng thực sự có cao nhân, ắt biết trận này còn chưa xong đâu.”

“Gì cơ? Còn muốn đánh nữa ư?” Hồng Tuyên Kiều buột miệng nói: “Không phải lần nào chúng ta cũng được may mắn thế này đâu, không tử thương đã coi là thắng trận rồi, hiện giờ toàn quân đã rút vào trong núi, chỉ cần phía trước không có quân chặn đánh, chúng ta có thể không giao chiến với quân Thanh, bảo hộ mọi người bình an gặp lại người nhà.”

Lục Kiều Kiều vội giải thích: “Ồ, chị hiểu lầm rồi, tôi không có ý bảo toàn quân ở lại đánh tiếp đâu. Chị dẫn binh rút lui trước đi, tôi phải ở lại làm chút việc, chỉ mất một ngày thôi, làm xong tôi sẽ đuổi theo mọi người. Để lại cho tôi năm mươi binh mã là được.”

Hồng Tuyên Kiều lắc đầu: “Các chị em đồng sinh cộng tử, sao có thể để một mình cô ở lại chứ. Chúng ta đánh thắng là nhờ hai ngàn phụ nữ yếu ớt hợp thành một nắm đấm đó thôi, tôi không để cô mạo hiểm một mình đâu, mau nói là chuyện gì, để tôi xem có giúp được hay không.”

Hai người mới trao đổi được mấy câu đã thấy quân Thanh dưới núi chia làm mấy đường vòng qua đám cháy, nhanh chóng tấn công dữ dội lên núi Tung Hoa. Lục Kiều Kiều vội nói: “Hồng thừa tướng, không còn thời gian dài dòng nữa đâu, hiện giờ các chị em phải mau mau rút vào trong núi mới tránh khỏi giao chiến, song Lục Kiều Kiều có việc nhất định phải thực hiện, chị để tôi đoạn hậu cho các chị em đi.” Nói đoạn, cô lấy tay đẩy Hồng Tuyên Kiều ra, ngoái đầu lại hô lớn: “Toàn quân rút vào trong núi ngay bây giờ, Lục Kiều Kiều ở lại đoạn hậu, cần năm mươi người không sợ chết, ai xung phong ở lại nào!”

Mười mấy nữ binh đi trước Lục Kiều Kiều bước lên, đứng ra trước mặt cô. Nguyệt Quế bước vào giữa, giơ cao hai tay bảo với tất cả: “Mọi người đều có người nhà, chồng và con, phải tìm được Thiên quân để đoàn tụ với gia đình, còn Nguyệt Quế chỉ có một thân một mình, nên các người không cần tranh giành nữa, cứ để Nguyệt Quế và Lục tướng quân đoạn hậu thôi.”

Lục Kiều Kiều nhảy lên một hòn đá cao: “Tôi đếm đến mười, năm mươi người không có gia quyến, cũng không sợ chết thì đứng ra. Sau trận chiến, nếu phát hiện ai nói dối để ở lại thì vân trung tuyết phi[62]! Nào, một, hai, ba…”

Lục Kiều Kiều chưa đếm đến năm, đã có năm mươi người đứng ra, thấy vậy cô vội bảo dừng, nào ngờ lại thấy Hương Quế từ trong đội ngũ bước ra: “Em và Nguyệt Quế là chị em ruột, từ lúc sinh ra đến giờ chưa lúc nào xa nhau, giờ chồng chị ấy đã mất, chồng em cũng bặt tin lâu rồi, nếu bảo Hương Quế sống một thân một mình trên đời, thà em chết cùng chị ấy cho xong. Lục tướng quân cho phép cả hai chị em em ở lại đi.”

Lục Kiều Kiều chẳng hề do dự, đáp ngay: “Được! Xin Hồng thừa tướng dẫn quân rút vào núi Tung Hoa ngay thôi!”

Hồng Tuyên Kiều thấy quân Thanh dưới núi đã áp sát hơn, nếu còn dùng dằng sẽ lỡ thời cơ, bèn kéo tay Lục Kiều Kiều, dặn cô bảo trọng rồi dẫn quân rút vào núi sâu.

Nguyệt Quế và Hương Quế chia ra mỗi người suất lĩnh hai mươi lăm nữ binh, hai đội binh mã đầy đủ vũ trang bừng bừng khí thế đứng trước mặt Lục Kiều Kiều, Lục Kiều Kiều quan sát cả hai đội, thấy ai nấy đều hừng hực chiến ý, không chút sợ hãi, bèn mỉm cười ngạo nghễ, tung người nhảy lên ngựa, dẫn quân vượt qua khe núi chạy về phía một ngọn núi khác.

Lục Kiều Kiều dẫn theo toán người ngựa vừa đi vừa phóng hỏa, băng qua khe núi nào, nơi ấy liền biến thành biển lửa. Họ đến một dốc núi, từ đó nhìn lên có thể trông thấy dưới chân núi là ngọn Nga Mi án bị thiêu trụi, như một thanh loan đao phơi ra trước mắt, xa xa là núi Thanh Nguyên lả tả lá vàng, cuối chân trời là Cống Giang uốn mình bao bọc lấy núi Thanh Nguyên, bờ bên kia Cống Giang chính là phủ Cát An. Bên trái khe núi lửa bốc ngút trời, giữa đám lửa hừng hực ấy là một cánh quân Thanh đang dò dẫm tìm đường lên núi, còn một toán quân khác lại men theo con đường mòn ngay dưới chỗ Lục Kiều Kiều đứng đánh thẳng lên. Lục Kiều Kiều cho đội người ngựa dừng lại, bảo Hương Quế chỉ huy người chuẩn bị củi lửa, còn mình dẫn theo Nguyệt Quế và mấy chục nữ binh xoay người nhảy xuống một gò đất khum khum, rồi mượn thế nhảy tiếp xuống trước một ngôi mộ lớn.

Nguyệt Quế thấy ngôi mộ này cỏ mọc um tùm, song phần mộ hoàn chỉnh, trên gò mả hình chữ nhật còn khảm vô số miếng đồng đỏ, trên bia mộ có sáu chữ lớn lờ mờ: “An công Kính Kỳ chi mộ”. Lục Kiều Kiều nhảy xuống đến nơi, lập tức quỳ sụp trước bia mộ dập đầu ba cái, rồi cầm một quả địa lôi từ tay nữ binh bên cạnh, nhét vào khoảng trống giữa bia và gò mả, châm ngòi. Sau một tiếng nổ đinh tai, bia mộ đã bị nổ tan tành, gò mả cũng nứt toác ra, để lộ áo quan bằng gỗ hoa lệ mà nặng trịch.

Lục Kiều Kiều khàn giọng nói lớn: “Nhấc quan tài lên, phóng hỏa đốt hết.”

Nguyệt Quế Hương Quế cứ ngỡ đoạn hậu chặn đánh là tìm một công sự bày trận rồi nổ súng, sau đó liều mạng một phen với đối phương, song đương lúc quân Thanh đánh lên núi, Lục Kiều Kiều lại phá mộ đốt quan tài, sự sắp xếp này khiến bọn họ vô cùng kinh ngạc. Có điều Lục Kiều Kiều xưa nay chưa từng thua trận, nên mọi người rất tin tưởng Lục Kiều Kiều đã sắp xếp như vậy nhất định là có cái lý của cô, bèn hành động theo mệnh lệnh, nhấc quan tài lên bỏ củi xuống, rắc hỏa dược lên đống củi khô, thiêu cháy nấm mồ vừa nổ toác ra.

Quan tài vừa cháy bùng lên, dưới núi cũng rền vang tiếng trống giục tấn công, quân Thanh chẳng cần dè dặt đề phòng nữa, một đội nhân mã chừng mấy chục người hò hét vung đao xông thẳng lên núi, đám binh sĩ chạy bộ phía sau cũng ùn ùn chạy theo, chẳng mấy chốc, một trận đại chiến sẽ nổ ra ngay tại dốc núi.

Lục Kiều Kiều hét lớn: “Các chị em, những ai muốn đi lập tức đi ngay, hiện giờ vẫn có thể đuổi kịp Hồng thừa tướng. Cỗ quan tài này chưa cháy thành tro bụi, Lục Kiều Kiều sẽ không rời khỏi đây, những ai muốn cùng chết với tôi thì ở lại, chuẩn bị nổ súng!”

Trên núi liên tiếp vang lên hàng tràng tiếng súng, đội binh mã của quân Thanh vừa xông lên đã bị đánh ngã quá nửa, ý đồ tấn công thần tốc bị chặn đứng. Liền sau đó, nữ binh trên núi nhao nhao châm ngòi những quả địa lôi còn lại ném xuống, tức thì trận địa quân Thanh mù mịt khói súng, máu thịt tung tóe, rất nhiều cây khô xung quanh bị nổ tung, những tảng đá lớn lộ ra trên dốc núi. Trong màn khói lửa mịt mù dưới dốc, một viên tướng già thân hình cao lớn, râu tóc bạc phơ, mình vận áo choàng xông ra. Ông ta xách một thanh mã tấu cán dài, mũ trụ đội đầu đã mất trong vụ nổ, để lộ mái tóc bạc phơ. Lục Kiều Kiều nhận ra gương mặt già nua quen thuộc đầy vẻ phẫn nộ kia, chính là An Vị Thu, cha ruột của cô.

Vốn dĩ sáu năm trước, để đoạt lấy Trảm long quyết từ tay cha mình, An Thanh Nguyên đã dùng đạo pháp giam cầm An Vị Thu suốt ba năm, sau khi giành được Trảm long quyết từ phủ Thiên sư, y cũng chẳng muốn làm khó cha già nữa, lập tức trở về Cát An thả ông ra. Chịu một trận mắng chửi của An Vị Thu xong, y vội vã về kinh phục mệnh, song lại nhận ra Trảm long quyết không có tâm pháp và pháp bảo phối hợp thì chỉ là một cuốn sách bỏ đi, rồi bị giáng xuống làm thứ dân vì trảm long không có kết quả. An Vị Thu sau khi được thả mới phát hiện An gia trang ở núi Thanh Nguyên đã không thể ở được nữa, bèn dọn vào sống trong thành Cát An. Ông vốn là hương thân ở Thanh Nguyên, được quan phủ và bà con xóm giềng nể trọng, nên sau khi chuyển vào thành Cát An, cuộc sống cũng yên ổn bình lặng. Song An Vị Thu trời sinh trượng nghĩa, không chịu nổi cô quạnh, chẳng mấy chốc lại tham gia vào việc nha môn, khi quân Thái Bình đánh vào Cát An, ông đã dốc hết kiến thức huyền học độc đáo hỗ trợ, cùng hai vị tri phủ tắm máu chiến đấu, chống lại những đợt tấn công dồn dập của quân Thái Bình.

Trận chiến lần này cũng nằm trong dự liệu của kẻ thần cơ diệu toán như An Vị Thu, nên ông đã cùng viện binh Bát Kỳ kéo lên phía Bắc giăng sẵn thiên la địa võng, chỉ đợi quân Thái Bình tự đâm đầu vào lưới. Có điều ông không tính được đây lại là một cánh nữ quân, cũng không ngờ sức chiến đấu của cánh quân này mạnh mẽ nhường ấy, càng không thể bói ra vị tướng cầm quân chính là con gái ruột An Thanh Như đã xả thân trốn khỏi vòng kiềm tỏa của số mệnh.

Lục Kiều Kiều ngồi trên ngựa trợn trừng đôi mắt hạnh nhìn cha ruột ở ngay bên dưới, cô dùng cờ lệnh màu vàng ngăn toán nữ binh phía sau lại, lập tức các nữ binh ngừng nổ súng. Nhưng An Vị Thu lại giơ cao ngọn mã tấu cán dài, dẫn theo đám quân Thanh phía sau lao lên dốc núi trong tiếng hô giết vang trời. Lục Kiều Kiều phất cờ lệnh màu vàng trên đỉnh đầu ba vòng, năm mươi nữ binh lập tức xếp thành mười trận Ngũ Hành vây lấy cỗ quan tài đang cháy. Lục Kiều Kiều và Nguyệt Quế Hương Quế đứng đầu đội ngũ, đối diện với An Vị Thu đang cầm đầu toán quân Thanh xông lên, cô hét lớn: “Toàn quân nghe lệnh! Chỉ chừa ông lão cầm đao dẫn đầu kia không được giết, để tôi đối phó, những tên chó Thanh còn lại không tha một tên nào, nổ súng!”

Cùng lúc tiếng súng nổ ran, Lục Kiều Kiều tay kết Lôi ấn miệng niệm Lôi chú, tức thì sấm sét rền vang bầu trời trên đầu quân Thanh, trong phạm vi nửa dặm dưới dốc núi, vô vàn tia sét ngoằn ngoèo như những con rắn khổng lồ đan lại thành một tấm lưới màu lam chụp xuống đầu đám lính Thanh, khiến chúng bị sét đánh ngất lịm không biết bao nhiêu mà kể, song dưới sự chỉ huy của một lão tướng khác, quân Thanh phía sau vẫn ùn ùn tràn về phía mộ phần, xem ra chiến ý của cánh quân Lục Doanh này mạnh hơn quân Bát Kỳ dưới núi nhiều.

Trông thấy quân Thanh người trước ngã xuống kẻ sau lại tiến lên, Lục Kiều Kiều và các tướng sĩ đều ý thức được trận chiến này sẽ hết sức cam go, các nữ binh được huấn luyện nghiêm chỉnh nổ súng ngăn cản quân Thanh xông lên, chỉ chừa lại một mình An Vị Thu xông đến trước mặt Lục Kiều Kiều. An Vị Thu quát lớn: “Nghịch nữ, mày dám đốt cả quan tài tổ tiên ư!” Đoạn hai tay vung đại đao chém vào Lục Kiều Kiều.

Lục Kiều Kiều đẩy Hương Quế Nguyệt Quế đang định ngăn An Vị Thu ra, lách mình lao đến trước mặt ông, mặc cho ngọn đao chém xéo xuống, cô giơ hai tay chặn đứng cán đao của ông, miệng nói: “Cha đừng trách con gái bất hiếu, cục thế phong thủy cha bày ra đâu có đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con cái, chi bằng để con đốt quách nắm xương tàn này đi, có vậy ba anh em con mới có thể đi trên con đường của mình!”

An Vị Thu căm giận và kinh ngạc đến nỗi cả người run lên bần bật, qua những rung động từ cán đao truyền lại, Lục Kiều Kiều cũng cảm nhận được tâm trạng kích động của ông. Nhìn gương mặt trẻ trung như thiếu nữ mười mấy tuổi cùng tốc độ và võ công như ma quỷ của con gái, An Vị Thu cũng lờ mờ cảm giác được đây là kết quả của việc tu luyện nội công nữ đan đến cảnh giới tối cao, muốn được như vậy phải trảm bạch long, trảm xích long, vứt bỏ khả năng sinh sản của phụ nữ, dù vẫn biết trời sinh con gái mình phóng túng tự do, song Lục Kiều Kiều có gan đi đến bước này, An Vị Thu không khỏi kinh ngạc.

An Vị Thu lùi lại nửa bước, hai tay dùng sức hất Lục Kiều Kiều lên, Lục Kiều Kiều thuận thế xoay mình trên không, đáp xuống trước mộ phần đang bốc cháy ngùn ngụt, rút ra hai thanh tụ lý đao cầm chắc trong tay. An Vị Thu vung đao lao về phía cỗ quan tài đang cháy, quát: “Thuật phong thủy khiến tổ tiên an nghỉ, cháu con hưởng phúc, được hưởng là phúc của mày, không được là số của mày, hiện giờ mày còn dẫn giặc tóc dài về quê giết người phóng hỏa, tự quật mả tổ, đã thành quân phản nghịch không điều ác gì không làm rồi!”

Nghe hai người đối thoại, các nữ binh mới biết vị tướng già đang xông tới chính là cha đẻ Lục Kiều Kiều, ai nấy đều hết sức bàng hoàng, cũng chẳng biết phải ra tay tương trợ thế nào, song như lời Lục Kiều Kiều căn dặn, họ phải bảo vệ để cỗ quan tài này cháy thành tro bụi, không được để An Vị Thu lao đến cướp quan tài. An Vị Thu đang múa tít thanh mã tấu lao về phía mộ phần, lập tức hai trận Ngũ Hành từ phía sau Lục Kiều Kiều bước ra chặn lại, đao thương khiên chắn của các nữ binh xếp thành hai lớp tường đằng đằng sát khí, chỉ cần An Vị Thu tiếp cận, sẽ bị công kích mãnh liệt.

Tất cả chỉ xảy ra trong một chớp mắt, Lục Kiều Kiều không kịp ngăn cản, hai tay vội múa tít đao gạt phăng đao súng của các nữ binh trong trận, lao về phía An Vị Thu, chỉ một cú giậm chân lấy đà, cô đã nhảy vọt qua các nữ binh, tay phải vung đao gạt cán mã tấu của An Vị Thu ra, thân thể linh hoạt lăn tròn áp sát ông, lách vào giữa hai tay cầm mã tấu, sau đó mượn thế hô lớn phát lực, sử ra tuyệt kỹ Thiết sơn kháo trong Bát Cực quyền học được từ Đặng Nghiêu, khẽ hừ mũi, dùng Thập Tự Chỉnh Kình chỉ riêng Bát Cực quyền mới có, húc sườn vào ngực An Vị Thu.

Một loạt động tác ấy diễn ra trong nháy mắt, các nữ binh chỉ nghe “binh” một tiếng, chưa kịp trông rõ xảy ra chuyện gì, đã thấy An Vị Thu từ sau lưng Lục Kiều Kiều bay ra như một mũi tên rơi thẳng xuống sườn núi không có quân Thanh, thanh mã tấu rơi xuống chân Lục Kiều Kiều vận chiến bào đỏ thắm. Thân hình Lục Kiều Kiều vừa dừng lại, hai tay đã lật nắm lấy đoản đao, hai khuỷu tay trước sau mở ra, chân xuống tấn, vững vàng đạp xuống trước hai trận Ngũ Hành. Đòn tấn công mạnh mẽ cùng động tác đẹp đẽ của cô khiến các nữ binh không khỏi rộ lên tán thưởng.

Lục Kiều Kiều chạy lên mấy bước, cao giọng nói với An Vị Thu: “Thiên quân chỉ giết bọn chó Thanh, xưa nay chưa từng làm hại dân chúng vô tội, nếu chẳng phải bị các người bức ép, nữ quân sẽ không tiếp chiến. Cục diện phong thủy do cha bày ra giúp đại ca có quyền có thế, song lại biến thành chó săn vô nhân tính của triều đình, nhị ca có tiền có đất, nhưng lại bỏ nghề buôn bán theo nghiệp binh đao, hòng được cắt đất phong tướng, con kiếm được bao nhiêu tiền, vậy mà lưu lạc giang hồ nhiều năm như vậy, vẫn không tìm được nơi để về, thứ phong thủy ấy còn cần làm gì? Nếu thực sự tưởng nhớ tổ tiên, thì phải ghi nhớ lời răn dạy của họ, chứ không phải bảo tồn thi hài họ thành xác khô ngàn năm không thối rữa, sau đó lại để âm hồn họ thao túng mệnh vận cháu con! Hôm nay để con đốt quách bộ hài cốt này đi, cũng coi như giải thoát cho cha, cha nhìn bộ áo giáp trên mình cha đi, vận mệnh mà cục thế tướng quân mặc giáp ban cho cha đấy!”

“Tiểu Như! Con tỉnh lại đi!” An Vị Thu lồm cồm bò dậy, đau đớn nói: “Mấy tháng trước giặc tóc dài kéo đến bao vây tấn công Cát An suốt năm ngày năm đêm, quân dân toàn thành nhất tề lên thành kháng cự, chúng không hạ được thành bèn quay ra chém giết cướp bóc bên ngoài thành, chỉ trong một đêm đã giết hết người trong phạm vi mười dặm, thây rải khắp nơi, Vương tri phủ mà con biết từ thuở bé căm hận dẫn binh xông ra đánh, tử chiến ngoài thành! Tiếp đó giặc tóc dài còn sục sạo cướp bóc khắp huyện Cát An, ta và tân nhiệm tri phủ Trần đại nhân dốc sức giữ trấn Điếu Nguyên tròn một tháng. Con còn nhớ không? Đó là Tiểu Nam Kinh mà lúc nhỏ con rất thích đến chơi, sau khi giặc tóc dài đánh vào, chúng đã giết hơn ba ngàn người, cướp của hiếp dâm chán còn châm lửa đốt trụi trấn Điếu Nguyên, tòa cổ trấn ngàn năm thế là bị hủy trong một chốc!“An Vị Thu nói mà kích động đến nỗi lồng ngực phập phồng, nước mắt giàn giụa, bấy giờ Lục Kiều Kiều mới biết, trấn Điếu Nguyên hoang phế mà mình vừa đi qua hai ngày trước quả nhiên đã bị hủy trong tay quân Thái Bình, quân Thanh dưới núi không phải lính Bát Kỳ truy sát quân Thái Bình, mà là lính dõng bảo vệ quê nhà suốt cả tháng nay. An Vị Thu chạy lên trước mấy bước, cao giọng nói với Lục Kiều Kiều: “Ta đặt ra cục thế tướng quân mặc giáp, là mong mấy đứa các con cầm đao lên bảo vệ bản thân, bảo vệ quê nhà, ta mặc bộ áo giáp này lên để giữ gìn quê hương, còn con, vì cái gì mà khoác bộ chiến bào đỏ rực kia?”

Lục Kiều Kiều thấy sống mũi cay cay, song cô biết rõ lúc này mà mềm lòng chẳng khác nào tống táng tính mạng năm mươi nữ binh bên cạnh mình, vội lớn tiếng đáp: “Con mặc chiến bào dẫn các chị em đánh đến đây là muốn đấu với ông trời, đấu với vận mệnh! Số mệnh An Thanh Như đã vậy cũng chẳng thể trách cha, là tự con gái mệnh khổ, nhưng cha để bảo toàn phúc lộc của hai anh mà một mực giữ lấy huyệt Phượng hoàng dang cánh vượng quan vượng tài song chỉ vượng cho con trai này, còn muốn vờ vĩnh gả con cho tay phú nông thôn Lũng Hạ nữa, phì! Số mệnh của con không đến lượt cha sắp xếp đâu!”

Lúc này, bên cạnh Lục Kiều Kiều chợt vang lên tiếng súng nổ, cô ngoái lại nhìn, thấy toán lính dõng trên sườn núi lại tổ chức một đợt tấn công quy mô lớn, các nữ binh đang đấu súng với chúng. Hai tay cô lập tức kết thành Lôi ấn, toan giáng một trận sấm sét nữa xuống núi. An Vị Thu tự biết thể lực của mình không bì được với Lục Kiều Kiều và các nữ binh, nhưng cỗ quan tài trong đám lửa đã bắt đầu bén lửa, bốc khói nghi ngút, ông bèn chập các ngón trên mỗi bàn tay lại thành chưởng, ngón cái ngoắc vào ngón út kết thành Thủy ấn, miệng niệm chú thúc động thủy khí của long mạch trong núi, đương lúc trên sườn núi sấm vang chớp giật, một làn hơi nước trắng xóa thình lình từ dưới mộ phần bốc lên, đao súng của các nữ binh đều phủ một lớp hạt nước li ti như mưa phùn tháng Ba, thuốc súng bị ẩm không thể phát nổ, đám lửa bên dưới quan tài cũng nhanh chóng nhỏ đi, lụi dần, ngọn lửa cháy bùng bùng đã biến thành khói đen mù mịt thổi từ Bắc sang Nam.

Lục Kiều Kiều thoạt trông thấy súng Tây của các nữ binh không nổ được, biết ngay lần này việc lớn gay to, nữ quân đọ đao thương hay thể lực với nam quân đều rất chật vật, giữa lúc không có súng thế này, chiến đấu với nam quân chẳng khác nào tự tìm đường chết. Cô căm phẫn trừng mắt nhìn An Vị Thu, rồi phi thân đến cạnh quan tài, hai tay đan chéo vào nhau quát lớn một tiếng: “Hỏa!” Đoạn đẩy công lực nữ đan vào phía dưới quan tài, lập tức ngọn lửa lại bùng lên mãnh liệt. Song An Vị Thu đã lao đến minh đường trước mộ, nhặt thanh mã tấu đánh rơi vừa nãy lên, toan xông vào trận Ngũ Hành của nữ quân, vừa vung đao chém khiên xông tới cạnh quan tài, vừa quát Lục Kiều Kiều: “Nghịch nữ dừng tay! Lập tức lui binh dập lửa, ta bảo đảm binh lính sẽ không truy kích các người!”

Lục Kiều Kiều chẳng muốn dài dòng với An Vị Thu nữa, cô đã thấy toán lính dõng chỉ còn cách quân mình chưa đầy mười trượng, trận giáp lá cà sắp nổ ra đến nơi, bèn nhảy ra khỏi trận Ngũ Hành, rút khẩu súng lục ổ quay từ thắt lưng ra bắn liền mấy phát vào toán quân Thanh, chuẩn xác hạ gục mấy tên, khi họng súng chĩa vào một viên tướng già xấp xỉ tuổi An Vị Thu, ngọn mã tấu của An Vị Thu cũng bổ xuống đầu cô.

An Vị Thu thét lớn: “Ngươi còn định giết bao nhiêu người nữa đây!”

Lục Kiều Kiều quay đầu lại, trông thấy ngọn mã tấu của cha ruột đang chém thẳng xuống đầu mình, lòng cô cũng hoàn toàn nguội lạnh. Bàn tay cầm súng của cô không chút nao núng, đạn bay ra găm thẳng vào ngực viên tướng Thanh kia, cùng lúc tay trái cô cũng giơ lên đỉnh đầu, dùng bàn tay đón lấy lưỡi mã tấu, lập tức lòng bàn tay tóe máu. Lục Kiều Kiều lạnh lùng nhìn An Vị Thu, thấy ông đang ra sức rút thanh mã tấu lại, cô từ từ giương súng lên, nhằm vào giữa hai mày An Vị Thu: “Ông đã chết rồi.”

An Vị Thu ngỡ rằng con gái sẽ tránh, tưởng đâu cô sẽ nghe lời, song giờ đây ông nhận ra mình đã lầm, trong mắt Lục Kiều Kiều, ông chỉ nhìn thấy vẻ lạnh lùng cô độc. Cò súng trong tay cô tức thì siết lại, chỉ phát ra một tiếng động chát chúa như tiếng va chạm, An Vị Thu sợ đến nỗi toàn thân run bắn lên, liền sau đó, ông bị Lục Kiều Kiều gạt chân đá bay xuống sườn núi. Khi An Vị Thu sắp ngã đập mình xuống đất, một bóng người chợt lao đến sau lưng ông như luồng gió đen, vững vàng đỡ lấy đặt ông xuống.

Lục Kiều Kiều biết quân Thanh sẽ không ngừng tấn công, song cỗ quan tài sau lưng còn chưa cháy thành tro bụi, cô nhất định không chịu đi. Ngoái đầu nhìn lại, cỗ quan tài trong lửa đỏ đang lách tách nứt ra, bắt đầu biến dạng, lớp gỗ dày dặn bên ngoài đã bị đốt thành một khối than khổng lồ đỏ rực, khói xanh trắng từ bên trong bốc lên, láng máng nghe thấy tiếng xì xì, chỉ cần kiên trì đợi thêm lát nữa, cỗ quan tài sẽ bị đốt cháy thành tro bụi.

Toán quân Thanh leo lên từ một khe núi khác đã đuổi đến gần mộ phần, từ trên này nhìn xuống, khắp núi rừng ùn ùn những quân Thanh đang tràn đến, Lục Kiều Kiều quay lại thét to: “Nguyệt Quế Hương Quế nghe lệnh, lập tức dẫn quân rút lui!”

Hai người vội vâng dạ, lại thấy Lục Kiều Kiều nhanh nhẹn nhồi đạn vào khẩu súng lục ổ quay, còn cầm lấy một cây thương và một tấm khiên đặt xuống nền đất trước mặt, hoàn toàn không có vẻ chuẩn bị rút lui. Nguyệt Quế liền hỏi: “Chị Kiều không đi ư?”

Lục Kiều Kiều cầm ngọn thương trên tay, một tay gỡ chiếc mũ đỏ viền vàng trên đầu ra vứt xuống đất, đáp: “Giờ ta không phải tướng quân của các người nữa, đây vốn là việc của ta, các người đã giúp ta rất nhiều rồi, không cần phải chết theo ta đâu, mau đi đi!”

Nguyệt Quế và Hương Quế nhìn nhau, rồi đồng thanh nói: “Chúng em cũng không đi.”

“Được lắm, để xem ai chết trước nhé…” Lục Kiều Kiều nói dứt lời lại nhằm vào toán quân Thanh trước sườn núi nổ súng, các nữ binh cũng cầm súng lên bắn nốt loạt đạn cuối cùng, bởi sau loạt súng này, quân Thanh cũng đã xông tới trước mặt họ, mười trận Ngũ Hành của các nữ binh đồng loạt rơi vào vòng vây của biển người.

Lục Kiều Kiều thấy đám lính dõng đã xông đến trước mặt, tay phải giơ thương lên, tay trái xòe bàn tay ra đỡ lấy cán thương, ngón giữa quặp cán thương kết thành Cửu sắc liên hoa ấn, miệng niệm chú, kéo giật cán thương về phía sau, lập tức trên cán thương hiện ra một vệt máu. Một khi đan khí phát động, vệt máu hồng kia sẽ nhanh chóng lan khắp cây thương, Lục Kiều Kiều hai tay nắm đuôi thương, quát lên một tiếng, múa thương thành một vầng hồng, mũi thương quét qua, chạm phải đao thì gãy đao, đâm phải người thì đả thương người. An Vị Thu bị trọng thương mấy lần, đã không còn sức chiến đấu nữa, ông được một nhà sư áo đen bịt mặt thấp hơn một cái đầu dìu đỡ, mười nhà sư khác cũng vận áo đen cầm côn chặn trước mặt ông, An Vị Thu thấy thân hình Lục Kiều Kiều trước mộ càng lúc càng lớn lên, ảo hóa thành hình dạng một thiếu niên cao một trượng, toàn thân rừng rực lửa đỏ, tay cầm ngọn thương, tung hoành bay lượn không ai lại gần nổi, xung quanh phần mộ tức thì tử thương vô số, thây chất thành gò.

An Vị Thu run rẩy lẩm bẩm: “Na Tra… Đó là nguyên thần Na Tra mà… tại sao cơ chứ?”

Nhà sư áo đen bịt mặt đỡ An Vị Thu lại bên cạnh một gốc cây khô, ngồi dựa vào đó, cuộn luôn vạt trước tăng bào vào thắt lưng, đáp: “Mang tâm sự của Na Tra, sẽ hiển lộ ra nguyên thần Na Tra. Tôi đến gặp cô ấy đây.” Nói đoạn, y xách côn nhảy vọt lên không, vượt qua đỉnh đầu đám lính dõng, xoay mình trên không vung côn bổ xuống đầu Lục Kiều Kiều.

Trong đám lính dõng rộ lên tiếng hoan hô: “Vô Tướng đại sư đến rồi!”

Lục Kiều Kiều ngẩng đầu nhìn, trông thấy một bóng hình quen thuộc từ trên không nhào về phía mình, tốc độ không gì sánh kịp cùng côn pháp loài khỉ đó khiến cô nhớ ngay ra người này chính là Tôn Tồn Chân.

Từ sau trận chiến ở phủ Thiên sư sáu năm trước, Tôn Tồn Chân đau lòng khôn xiết, không từ mà biệt Lục Kiều Kiều, quay về chùa Tịnh Cư ở núi Thanh Nguyên, làm đồ đệ Vô Vị đại sư, tu thiền học Phật. Chỉ mấy năm y đã tinh tiến về Phật pháp, trở thành nhân tài mới nổi trong cửa Thiền, rất được Vô Vị đại sư ưu ái, chẳng bao lâu sau, còn giới thiệu y với ông bạn già An Vị Thu. Có lẽ là duyên phận, cũng có lẽ bởi Tôn Tồn Chân biết An Vị Thu là cha Lục Kiều Kiều nên sau khi quen biết, y rất quan tâm chăm sóc An Vị Thu, đôi bên trò chuyện tâm đầu ý hợp, kết thành bạn vong niên, điều này giúp Tôn Tồn Chân thỉnh thoảng lại được nghe An Vị Thu kể chuyện hồi nhỏ của Lục Kiều Kiều.

Mấy năm sau, Vô Vị đại sư trước lúc viên tịch, phá lệ truyền ngôi vị trụ trì lại cho kẻ mới từ nơi khác đến là Tôn Tồn Chân, đổi pháp hiệu y thành Vô Tướng. Vô Tướng đại sư, trụ trì mới của chùa Tịnh Cư luôn mặc áo đen, đầu đội khăn đen mặt che vải đen, xưa nay chưa một ai nhìn thấy gương mặt thật của y, song y từ bi trí tuệ, võ công cao cường, được dân chúng bản địa hết mực yêu kính. Giặc cướp hoành hành khắp một dải Cát An, Vô Tướng đại sư nhiều lần chỉ huy các tăng binh trong chùa Tịnh Cư phối hợp với dân đoàn giữ làng phòng giặc, khi quân Thái Bình bao vây thành Cát An và trấn Điếu Nguyên, Vô Tướng đại sư cũng dẫn các tăng binh tham gia trận chiến, bởi vậy hôm nay ở trong chùa Tịnh Cư, nghe thấy tiếng súng nổ dưới núi, y lại ra xem có phải giặc cướp đến, dân đoàn cần hỗ trợ hay không?

Khi y dẫn các tăng binh lên núi Tung Hoa, vừa hay bắt gặp An Vị Thu bị Lục Kiều Kiều đá xuống sườn núi. Trông thấy Lục Kiều Kiều vận trang phục quân Thái Bình, chỉ huy một đội nữ binh dàn trận chiến đấu với tốp lính dõng, y thực chẳng biết phải ra tay giúp đỡ bên nào, song khi thấy Lục Kiều Kiều hóa thành nguyên thần Na Tra, y tự biết không thể không ra tay được.

Trong tu hành Đạo giáo, mỗi loại nguyên thần đều có tâm tính riêng biệt, Na Tra theo truyền thuyết là một vị thần phản nghịch, không sợ trời không sợ đất, có mâu thuẫn không thể hóa giải với cha, cuối cùng đến nỗi cha con tàn sát nhau. Sau khi gặp cha, Lục Kiều Kiều lại hiển lộ ra nguyên thần Na Tra, cũng rất khó nói có phải do tâm tính thực sự khống chế hay không, song có thể khẳng định cô đã quyết tâm cắt đứt hoàn toàn với gia đình, với quyết tâm như thế, lại thêm hoàn cảnh máu lửa đan xen này, đại khai sát giới là kết quả tất nhiên.

Thấy Tôn Tồn Chân bất ngờ xuất hiện, Lục Kiều Kiều vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, lại thấy y vung côn nhằm vào mình, lòng cô chợt dâng tràn hào khí. Xưa nay cô luôn thừa nhận Tôn Tồn Chân là kẻ võ công cao nhất, Tôn Tồn Chân có thể thực sự ra chiêu với mình, khiến Lục Kiều Kiều thấy ngỡ ngàng vì được coi trọng. Từ khi bản thân đột phá cảnh giới tối cao của nữ đan, cô chẳng thấy một ai nhanh hơn được mình nữa, Tôn Tồn Chân vừa ra tay quả nhiên khác hẳn người thường, dù Lục Kiều Kiều ngày nay đã trông rõ được động tác của y, song động tác ấy vẫn nhanh đến nỗi khiến tim cô đập rộn lên. Lục Kiều Kiều vung thương vạch ra một vòng lửa, rồi tung người đạp lên đầu một tên lính Thanh, chĩa thương đâm tới trước ngực Tôn Tồn Chân.

Tôn Tồn Chân bổ côn xuống ngọn thương của Lục Kiều Kiều, hóa giải chiêu này, đồng thời mượn lực nhảy lên không, hô lớn: “Lục thí chủ, buông bỏ đồ đao, lập địa thành Phật!” Đoạn xoay người đáp xuống giữa đám lính dõng và nữ binh, múa tít côn gạt hết binh khí của đôi bên ra.

Côn pháp của Tôn Tồn Chân so với năm xưa quả là một trời một vực, sau sáu năm khổ luyện, y đã đạt tới cảnh giới thu phát tự nhiên, cương nhu kết hợp, thanh tề mi côn như chăng ra một sợi thừng mềm ngăn giữa hai quân. Mười nhà sư cầm côn cùng đến với Tôn Tồn Chân cũng theo chân y lao tới giữa hai quân, chia nhau ra bốn phương tám hướng xung quanh trận địa của nữ quân múa côn chặn đánh, dưới đợt càn quét như gió lốc, toán lính dõng đã bị đẩy xuống sườn núi như thủy triều, đao súng chĩa vào trận địa nữ quân đều như chém vào một tấm chăn dày, không thể vận sức, chỉ có thể lùi chứ không thể tiến. Sức kháng cự của thế trận Ngũ Hành vốn đã bị những đợt tấn công từ bốn phương tám hương phân tán, phân nửa số nữ binh đã thương vong trong khi hỗn chiến, nhờ có sự xuất hiện của Tôn Tồn Chân và các tăng binh, nữ quân mới có cơ hội hít thở và bày bố lại trận thế.

Cỗ quan tài giữa mộ vẫn đang cháy rừng rực, Tôn Tồn Chân trông thấy toán lính dõng mình vừa đẩy lùi lập tức bị Lục Kiều Kiều lao tới truy sát, song cô không dám rời xa đống lửa nghi ngút kia, đành lùi về trước trận địa nữ quân, đám lính dõng thấy vậy lại ùn ùn lao lên tấn công, cứ đánh thế này chỉ khi nào một phe thua thê thảm mới dừng nổi. Tôn Tồn Chân nhận ra nỗi căm hận của Lục Kiều Kiều và thái độ gây hấn với quân Thanh, có lẽ cũng chính là gây hấn với mình, muốn chấm dứt trận chiến vô nghĩa này, chỉ còn cách khống chế Lục Kiều Kiều trước.

Nghĩ vậy, Tôn Tồn Chân quát lớn: “Các hương thân lui binh, Trần đại nhân mau dẫn các binh sĩ lùi xuống!”

Bấy giờ, một giọng nói từ trong trận vang lên: “Trần đại nhân bị thương rồi, giặc cái tóc dài đã giết bao nhiêu anh em, chúng ta phải báo thù!” Đám lính dõng tức thì hô vang đáp lại, tiếng kêu gào đòi báo thù chấn động cả khe núi. Tôn Tồn Chân thấy Lục Kiều Kiều liếc mình, khóe miệng hé cười, cùng với tiếng quát lớn, ngọn thương trên tay cô cuốn theo lửa đỏ đâm tới đám người phía trước, một luồng sáng đỏ từ mũi thương bay ra, mấy chục người trước mặt cô bén lửa cháy ngùn ngụt, ngã lăn xuống đất, phía nữ quân lập tức rộ lên tiếng hoan hô nhằm củng cố thanh thế.

Tôn Tồn Chân biết hiện giờ không thể chậm trễ một khắc, bèn vận nội công thúc động chân khí, nhảy lên không trung nhằm vào Lục Kiều Kiều, côn chưa đánh đến nơi, y đã hiển lộ ra nguyên thần Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không trên trời, một vị Mỹ Hầu vương đầu đội mũ vàng mình vận giáp vàng, múa cây tề mi côn loang loáng khắp trời, dấy cuồng phong lao về phía Lục Kiều Kiều.

Lục Kiều Kiều cười thầm, cầm thương xoay người nhảy lên nhắm vào chỗ có nhiều mái đầu lính dõng lô nhô đạp xuống. Chiêu này của cô khiến kẻ không muốn tổn thương người khác như Tôn Tồn Chân rất đau đầu, chiến đấu giữa chiến trường đông đúc, bất luận là côn hay thương đều có thể đâm nhầm vào đám lính dõng, mà những người này lại không phải quân Lục Doanh bán mạng cho triều đình, chỉ là lính chiêu mộ từ làng xóm để bảo vệ quê hương, cởi quân trang ra lại là đồng hương huynh đệ, chết một người thì xóm làng lại thêm một đám ma. Cứ chiến đấu thế này khiến Tôn Tồn Chân rất bối rối, y không muốn hại đám lính dõng, lại càng không muốn làm bị thương Lục Kiều Kiều, đành dốc hết sức tấn công, lấy nhanh chế nhanh, chỉ mong có thể giải quyết trong một chiêu.

Lục Kiều Kiều tuy nhanh, nhưng trước sau vẫn không bì kịp nội lực tinh thâm mấy mươi năm của Tôn Tồn Chân, côn pháp mạnh mẽ của y cuốn theo cả tiếng sấm ì ùng và tiếng gió vù vù đánh tới sau lưng Lục Kiều Kiều, vai cô trúng một côn rất nặng, miệng tức thì phun ra một búng máu tươi, nhưng tốc độ chạy của cô không hề chậm lại, giữa rừng người san sát đao súng, cô nhanh nhẹn né bóng côn truy đuổi, một mực xoay lưng lại phía Tôn Tồn Chân, vừa chạy vừa cao giọng hỏi: “Vô Tướng đại sư đánh người từ phía sau cũng muốn khai sát giới ư?”

Tôn Tồn Chân liên tiếp quét hai côn nhằm vào chân Lục Kiều Kiều, ép cô nhảy lên cao, không giẫm đạp xuống đầu đám lính Thanh được nữa, miệng quát lớn: “Trảm yêu trừ ma, bổng hát đốn ngộ!”[63]

Lục Kiều Kiều xoay người giữa không trung, sử ra chiêu hồi mã thương đâm thẳng xuống đầu Tôn Tồn Chân, miệng đầy máu quát trả: “Ai là yêu ma, không đến lượt ông phán quyết!”

Hai côn vừa rồi của Tôn Tồn Chân vốn là hư chiêu, y chỉ đợi Lục Kiều Kiều vung thương đâm tới, ngọn thương vừa xỉa đến, Tôn Tồn Chân liền kéo giật đuôi cây tề mi côn lại, xoắn lấy mũi thương, cao giọng đáp: “Kẻ gieo mầm ác ắt rơi vào ma cảnh!” Cùng lúc ấy, mũi thương cũng bị đuôi côn bẻ gãy.

Tuy vết thương sau lưng đau đến run rẩy, song chứng kiến côn pháp xuất thần nhập hóa của Tôn Tồn Chân, Lục Kiều Kiều không khỏi thán phục, buột miệng khen ngợi: “Côn pháp hay lắm!”, đoạn vứt thương đi, rút hai thanh tụ lý đao ra, thân mình hơi co lại, từ trên đầu đám lính Thanh nhanh nhẹn đáp xuống, dựa vào thân thể nhỏ nhắn, bước theo bộ pháp tam giác quỷ dị luồn lách dưới chân đám lính dõng, thoắt chốc đã lẻn về trước phần mộ có nữ quân bảo vệ, dọc đường đi, hai tay cô vẫn vung đao chém tới tấp, đi tới đâu, hàng loạt lính dõng ôm chân ngã lăn ra tới đó. Tôn Tồn Chân từ lâu đã mở thiên nhãn thiên nhĩ, trò vặt này bị y trông rõ mồn một, bèn chạy trên đầu đám lính dõng đuổi theo Lục Kiều Kiều, đồng thời quát lớn bảo những kẻ phía trước: “Nguy hiểm! Mọi người phía trước tản ra!”

Đám lính dõng trước mặt nghe thấy hiệu lệnh của Vô Tướng đại sư, lập tức tản ra bốn phía, để lộ một khoảnh đất trống, Lục Kiều Kiều đột nhiên xuất hiện giữa chốn không người, lại bị Tôn Tồn Chân đuổi riết như bóng với hình, y nhảy lên không vung côn đập xuống chân Lục Kiều Kiều, khiến cô thét lên một tiếng thê thảm lăn tới trước trận địa nữ quân, quỳ một chân xuống đất, đám lính dõng thấy vậy vội ùa lên, mấy chục ngọn trường thương nhất tề nhằm vào cô. Tuy đòn côn của Tôn Tồn Chân nhắm vào Lục Kiều Kiều, song y cũng luôn theo sát bên cô bảo vệ, những ngọn thương đâm tới đều bị y múa tít côn hất văng ra, đoạn cùng các tăng binh chặn giữa Lục Kiều Kiều và đám lính dõng, cao giọng quát bảo song phương ngừng tay.

Bấy giờ An Vị Thu cũng chống một ngọn trường thương khập khiễng chạy đến trước trận địa nữ quân, gọi to: “Tiểu Như, con nghe lời cha đi! Đừng chém giết nữa! Con đốt quan tài ông nội cũng được, thiêu thành tro rồi cúng tế cũng là hiếu thuận vậy, con mau đi đi!”

Lục Kiều Kiều dang hai tay ra nắm chặt tụ lý đao, nhịn đau đứng dậy, thúc động nội đan ngẩng lên trời cười dài, lập tức bóng lửa trên người lan ra như một bầy rắn, một lần nữa hiển lộ ra ảo ảnh thiếu niên Na Tra cao lớn, đám lính dõng xung quanh bị Lục Kiều Kiều xông đến đánh dạt ra đều kinh hãi la lên: “Yêu thuật!” rồi lùi lại theo phản xạ. Chúng thấy tuy bị Vô Tướng đại sư đánh trúng mấy chiêu, nhưng nữ ma đầu này chẳng hề nao núng; khi nãy Lục Kiều Kiều vừa ra tay đã đánh gục mười mấy viên tướng, hiện giờ không có đủ tướng chỉ huy nữa, toán lính dõng cũng vì thế mà mất hết ý chí chủ động tấn công, chẳng còn chiến thuật tấn công hiệu quả, chỉ đứng tại chỗ vây lấy trận Ngũ Hành lác đác của các nữ binh mà quát mắng.

Lục Kiều Kiều ngang nhiên đứng trấn trước các nữ binh và phần mộ, đáp rành rọt: “Đừng gọi Tiểu Như nữa, tôi là Lục Kiều Kiều. Ai cũng là con người, sao tôi phải nghe lời ông! Nếu hiếu thuận là phải nghe theo ông sắp xếp, thì tôi chấp nhận mang tội bất hiếu! Nếu hiếu thuận là cái giá tôi phải trả để mua lại cái mạng này, thì ông cứ ra giá đi, tôi sẽ bỏ tiền mua ngay bây giờ. Xương thịt tôi là do ông tạo ra, nhưng tính cách của tôi do tôi quyết định, ông muốn tôi báo đền ơn sinh thành, tôi có thể phụng dưỡng chăm sóc ông, nhưng không đến lượt ông ra lệnh đâu!”

An Vị Thu chống cây mã tấu cán dài bước lên mấy bước, rưng rưng nước mắt hỏi: “Ơn cha mẹ sâu như biển cả, sao con có thể dùng tiền mua lại mạng mình được?”

“Hừ, ra chợ thấy gái đẹp bán thân cũng chỉ mua khoảng năm mươi lạng, hằng tháng một tên lính dõng chẳng qua được trả dăm ba lạng bạc, đánh chết người rồi đền mất ba mươi lạng, lúc tôi bị truy nã, triều đình ra giá năm trăm lạng, ông muốn lấy bao nhiêu tiền?”

Bấy giờ, một tên lính dõng vung đại đao từ giữa đám đông xông ra, gương mặt méo mó vì căm hận, gào lên: “Trả anh em ta lại đây,” đoạn lao tới Lục Kiều Kiều.

Lục Kiều Kiều đảo mắt, trừng trừng nhìn vào mắt tên lính dõng kia, quát lớn: “Muốn bán mạng thì đến đây!” Trong mắt cô toát lên khí phách chấn động lòng người, chiêu này thoạt trông chỉ là thuật trói thân thông thường, song thực ra lại chính là Nhiếp Tâm thuật nổi tiếng biết thì dễ mà làm thì khó trong Đạo giáo, cũng như cảnh giới tối cao hái một chiếc lá mà không phải lá trong võ lâm vậy. Tên lính dõng kia tức thì đứng ngây ra tại chỗ, nhưng Lục Kiều Kiều không hề dừng lại, mà tiếp tục bước lên một bước, thân hình thoáng qua trước mặt y, nguyên thần Na Tra cao ba trượng đột nhiên hiển lộ pháp thân sáu tay, sáu cánh tay đồng thời cử động, hai tay cầm đao chém đứt tay đối phương, hai tay khác chia ra ấn đầu và tóm hông, hai tay còn lại vung song đao chém vào yết hầu và eo lưng của tên lính.

Mắt thấy tên lính dõng sắp bị xẻ thành tám mảnh, chợt một thanh tề mi côn bay tới cắm phập vào giữa Lục Kiều Kiều và tên lính, Tôn Tồn Chân múa tít côn thành luồng gió, bóng côn dày đặc không trông thấy dáng người, gạt sáu cánh tay Na Tra ra, chiêu thức của Tôn Tồn Chân dứt khoát mau lẹ, miệng liên tục niệm bài kệ: “Hết thảy sợ đao gậy, ai ai cũng tham sinh, lấy mình độ kẻ khác, đừng giết đừng bảo giết.” Sau khi ngăn cản đòn tấn công của sáu cánh tay, Tôn Tồn Chân vung côn hất tên lính dõng kia xuống sườn núi, rồi mượn thế xoay ngược côn lại đè xuống eo Lục Kiều Kiều, hơi phát lực đẩy cô về trước mộ phần, đám lính dõng thấy Lục Kiều Kiều lại sắp ra tay giết người, đều nhao nhao toan ùa lên tấn công.

Lục Kiều Kiều thu hồi pháp thân, đáp xuống trước trận địa nữ quân lăn tròn dưới đất nhặt lấy khiên và đao rồi lui vào trong trận Ngũ Hành, đối mặt với đám lính dõng đang sẵn sàng tác chiến, cao giọng nói: “Người cũng như ta, ta cũng như người, kẻ hiền gặp lành, kẻ ác gặp ác. Hiện giờ lui binh hay không không thể do chúng ta quyết định nữa rồi!”

An Vị Thu định nói gì đó, nhưng tiếng nói của ông đã bị tiếng gào “báo thù” của toán lính dõng át đi, hai phe đều hừng hực chiến ý, tình thế hết sức căng thẳng. Bấy giờ, giữa trận địa lính dõng chợt vang lên tiếng nổ, liên tiếp năm sáu quả đạn pháo nối nhau rít tới rơi xuống, tức thì đám lính dõng rối loạn cả lên, dưới núi vọng lên tiếng đao thương đâm vào nhau loảng xoảng, ai nấy đều nghe tiếng đám lính truyền tin gào to: “Giặc tóc dài đánh vào thành rồi! Lập tức về thành phòng thủ!”

Mọi người đều ngoái đầu nhìn xuống núi, thấy một toán quân sĩ đầu chít khăn đỏ đang thúc ngựa kéo pháo hối hả rút lui, An Vị Thu chạy đến bên cạnh Trần tri phủ đang bị thương, nói: “Cát An báo nguy, ngài phải mau rút quân về giữ thành thôi, nơi này không phải chiến trường chính nữa rồi, cứ để mình lão phu thu xếp.” Trần đại nhân cũng chính mắt trông thấy trên dốc núi chỉ có mấy chục lính Thái Bình, chẳng những tấn công mãi không hạ được, mà còn toàn là phụ nữ, dù thắng cũng chẳng có ý nghĩa chiến lược gì, bèn chỉ huy đám lính dõng cứu những binh sĩ bị thương, khiêng các thi thể rút khỏi núi Tung Hoa.

Toán lính dõng đã rút lui nhưng Lục Kiều Kiều và các nữ quân không dám lơi lỏng, bốn trận Ngũ Hành còn lại vẫn sẵn sàng tư thế đối phó với An Vị Thu và mười tăng binh do Tôn Tồn Chân dẫn đến. Họ biết nhiệm vụ của nữ quân là ngăn chặn quân Thanh tiến lên phía Bắc, đồng thời, nữ quân cũng là đội ngũ cuối cùng được quân Thái Bình bố trí ở phía Nam, không nghĩ ra được còn có quân Thái Bình ở đâu kịp thời xuất hiện cứu viện như vậy, cánh quân Thái Bình xuất hiện lúc này nhất định có điều kỳ quái.

Tiếng pháo ì ùng bắt đầu từ phía thành Cát An vẳng đến, khiến toán lính dõng rút lui càng nhanh hơn, chẳng mấy chốc đã biến mất sau núi Thanh Nguyên, bấy giờ Lục Kiều Kiều mới cắt đặt mọi người cấp cứu và băng bó cho thương binh. An Vị Thu bước lại gần Lục Kiều Kiều đang đứng chắn trước đống lửa, Lục Kiều Kiều vội giơ khiên quát: “Đứng lại, không được qua đây!”

An Vị Thu hơi bối rối, vừa kinh ngạc vừa giận dữ đứng yên tại chỗ. Tôn Tồn Chân bảo các tăng binh lùi lại sau lưng mình, rồi bước đến cạnh An Vị Thu, cầm lấy cây mã tấu cán dài từ tay ông vứt xuống đất, đoạn đỡ An Vị Thu ngoái lại nhìn về phía Lục Kiều Kiều. Y trông thấy vẻ do dự trong mắt Lục Kiều Kiều, bèn bỏ nốt cây tề mi côn trong tay xuống đất.

Lục Kiều Kiều nhìn Tôn Tồn Chân vận đồ đen, mặt bịt vải đen đỡ cha mình từng bước tiến lại giữa dốc núi mịt mù khói súng, lòng ngổn ngang trăm mối, cơn đau từ vết thương bỗng lan khắp toàn thân, đao và khiên trong tay từ từ hạ xuống, cả người mềm nhũn ngồi phệt xuống đất.

An Vị Thu bước đến trước mặt Lục Kiều Kiều, xót xa nhìn gương mặt ông ngày mong đêm nhớ, khẽ gọi một tiếng: “Tiểu Như!” Nghe ông gọi, lòng Lục Kiều Kiều đau nhói, ngẩng đầu cau mày nhìn An Vị Thu, song ánh mắt lại ngập tràn oán hận và kháng cự. Tôn Tồn Chân hiểu lòng Lục Kiều Kiều, bèn kêu một tiếng: “Lục thí chủ…”

“Ha ha, Vô Tướng đại sư có điều gì chỉ bảo?” Từ lúc gặp lại Tôn Tồn Chân, Lục Kiều Kiều vẫn hết sức kinh ngạc trước con đường y lựa chọn, một Tôn Tồn Chân đã thoát khỏi sự kìm kẹp của vận mệnh, lại bước vào cửa Phật giáo điều cứng nhắc vô cùng, lẽ nào đây là tự do mà y tìm kiếm ư? Nếu chẳng phải gặp nhau trên chiến trường, hẳn Lục Kiều Kiều đã giữ y lại hàn huyên ba ngày ba đêm, đòi y thuật lại những chuyện từng trải qua trong ba năm nay. Lục Kiều Kiều biết Tôn Tồn Chân không bao giờ làm hại đến mình, y sẽ mãi mãi đối tốt với cô, lúc này, cô càng muốn trò chuyện với y, chính xác ra, là muốn trêu chọc y.

Giọng Tôn Tồn Chân bình lặng như nước, chắp tay hành lễ nói: “Thân hình này không phải ta tự tạo, cũng không phải kẻ khác gây họa này. Yêu hận trên đời đều do mọi người mà ra, hận không thể chỉ hận một người, yêu không thể chỉ yêu một người, lòng xót thương tam giới lục đạo đại từ đại bi mới có thể độ mình độ người, độ chúng sinh khỏi kiếp khổ. Cha cô thường tính toán bát tự của cô, muốn biết tin tức của cô, nhưng ông ấy biết bản tính cô phóng túng quật cường, sợ nếu cô không thích thì nhất định sẽ không bao giờ quay lại nữa, thế nên không dám đi tìm cô, chỉ biết đợi ở quê chờ cô về đoàn tụ…”

Lục Kiều Kiều ngẩng lên nhìn vào mắt Tôn Tồn Chân nói: “Không cần phiền phức thế, bát tự đó đã không còn liên quan đến tôi nữa.” Đoạn cô ngoái đầu nhìn cỗ quan tài trong đống lửa đã cháy thành than, hân hoan cười nói: “Cục thế Phượng hoàng dang cánh phải có long án triêu sơn mới đầy đủ sức lực, rồng hổ hai bên bay ra, con cháu ắt sẽ lưu lạc tha hương vạn dặm, An đại thiện nhân tinh thông mệnh học, con gái có về hay không ông ấy đã sớm biết rồi… Có điều giờ thì tốt rồi, xương cốt ông nội đã cháy thành tro bụi, linh lực phong thủy giảm mười phần, người nhà họ An đều được tự do…”

“Tiểu Như… Kiều Kiều…” An Vị Thu gọi rồi mới nhớ ra Lục Kiều Kiều không thích cái tên và thân phận này, vội gượng gạo đổi giọng nói: “Kiều Kiều, con bị thương nặng lắm, mau để cha xem xem…” Lục Kiều Kiều ngồi dưới đất, ngoảnh đầu sang một bên, chẳng buồn để tâm đến lời An Vị Thu. An Vị Thu lại nói tiếp: “Cha không tính ra được con sắp về, cũng không tính được con đang ở trong quân, có phải con đã làm phép vứt bỏ mệnh vận rồi không? Vứt bỏ bát tự là việc rất nguy hiểm, con đừng làm chuyện ngốc nghếch nữa, nếu ở lại Cát An sinh sống…”

Lục Kiều Kiều vừa nghe nói liền trừng mắt cắt lời An Vị Thu: “Đừng nói nữa, tôi sẽ không ở lại đâu. Mệnh do trời định, phong thủy do ông định, ông thích sống dưới sự sắp đặt của số mệnh là chuyện của ông, tự do của tôi đến chết ông cũng không hiểu được đâu!” Đoạn cô quay sang bảo Nguyệt Quế Hương Quế: “Nguyệt Quế Hương Quế, quét dọn đống lửa nhặt lấy tro cốt, đào mộ lên táng lại tro cốt vào trong.” Hai người nghe lệnh lập tức dẫn người đi thu dọn tàn cục.

An Vị Thu thấy con gái chẳng buồn đáp lại mình nửa câu, đành đẩy tay Tôn Tồn Chân ra lắc đầu quay người bước xuống núi, vừa đi được vài bước, ông chợt dừng lại như nhớ ra việc gì đó, rồi xoay mình bước đến trước mặt Lục Kiều Kiều, móc trong áo giáp ra một con búp bê vải đã bị đè bẹp, chìa ra trước mặt cô, Lục Kiều Kiều kinh ngạc nhìn.

Con búp bê vải kia được khâu từ vải hoa vụn, có bím tóc có vành tai, trên mặt còn dùng nút áo làm hai con mắt to tròn, mình mặc một bộ kỳ bào rộng thùng thình, rõ ràng là một phiên bản búp bê của Lục Kiều Kiều, là món đồ chơi hồi nhỏ cô thích nhất. Con búp bê này theo cô rời khỏi quê hương, lại cùng cô quay về Cát An, tới khi liều mạng chiến đấu trong kỳ môn ảo trận sáu năm trước mới đánh mất.

Bàn tay cầm búp bê vải của An Vị Thu khẽ run rẩy, gương mặt lộ ra nụ cười ôn hòa: “Đại ca con… đem con búp bê vải này về cho ta, sáu năm nay ta vẫn luôn mang theo bên mình, mỗi lúc nhớ con lại lấy ra xem… Ta biết đây là thứ con yêu thích từ thuở nhỏ, nào, cầm lấy đi…”

Trông thấy con búp bê này, Tôn Tồn Chân cũng rúng động toàn thân. Năm xưa, cũng ở trên dốc núi, trước mặt y cũng là Lục Kiều Kiều mình đầy bụi đất khiến người ta xót xa thế này, y từng nắm chặt con búp bê vải ấy. Bấy giờ bát tự của Lục Kiều Kiều còn đính trên mình con búp bê vải, để có thể vĩnh viễn ở bên cô, y đã dùng nó uy hiếp cô nổ súng giết Jack, cảm giác khống chế xưa nay chưa từng có ấy trong nháy mắt dường như lại tràn ngập tâm trí y.

Lục Kiều Kiều chìa tay đón lấy con búp bê vải đã thất lạc sáu năm, ngón tay lướt qua bàn tay lạnh lẽo thô cứng của cha. Cô còn nhớ, đôi bàn tay lớn viết chữ rất đẹp ấy từng ấm áp mềm mại, đó là tướng tay của người tốt số. Bàn tay thô tháp nhường này chỉ nông dân và binh sĩ mới có, chắc chắn mấy năm nay An Vị Thu đã cầm binh khí ra trận, mới khiến hai tay đầy chai sần như vậy. Nếu An Vị Thu không bày ra cục thế tướng quân mặc giáp, nếu chẳng phải chính ông cũng từng trải chiến sự, thì giữa thời loạn lạc này, cả nhà họ còn được mấy người sống sót?

Tim Lục Kiều Kiều đập rộn lên, nhưng cô chẳng nói chẳng rằng, chỉ lẳng lặng nhìn theo An Vị Thu tập tễnh quay người đi xuống núi, bóng lưng già cả ấy có lẽ sẽ vĩnh viễn biến mất trong cuộc đời cô. Tôn Tồn Chân căn dặn các tăng binh đỡ An Vị Thu về chùa Tịnh Cư trước, rồi quay sang bảo Lục Kiều Kiều: “Lục thí chủ cũng tinh thông Phật lý, hiểu được thế nào là nhân quả thiện ác, vậy mà giờ lại kết bè cùng giặc cướp, tu vi bậc ấy mà không dùng vào chính đạo, rõ ràng là nối giáo cho giặc.”

Lục Kiều Kiều khinh miệt cười đáp: “Ông bị Thiên quân đánh bại rồi phải không?”

“Chúng tôi đã mấy lần thắng giặc tóc dài, bọn chúng cũng chưa từng đánh được vào phủ Cát An, nhưng mỗi lần kéo đến đều gây ra một phen đại nạn, không chỉ đốt phá cướp bóc, còn đốt sách thiêu miếu, mấy tháng trước miếu Tích Hoa bên cạnh Điếu Nguyên đã bị thiêu hủy, chùa Tịnh Cư cũng từng bị chúng vây đánh, tăng nhân trong chùa dốc hết sức kháng cự mới bảo vệ được, Lục thí chủ…”

Nghe y một điều thí chủ hai điều thí chủ, Lục Kiều Kiều phát cáu: “Được rồi! Đừng giả vờ giả vịt gọi thí chủ này kia nữa, tôi đâu có quyên tiền dầu đèn cho ông, ông còn thiếu tôi hai trăm lạng bạc thì có, tình hình Thiên quân tôi sẽ tự nghe ngóng, ông cứ về làm đại sư cho tốt đi.”

Tôn Tồn Chân nhặt cây tề mi côn dưới đất lên, chắp tay hành lễ với Lục Kiều Kiều: “Hai trăm lạng bạc kia bần tăng vẫn luôn ghi khắc trong lòng, đã góp đủ tiền trả, nếu Lục thí chủ không tiện đi lại, lát nữa bần tăng sẽ lấy đem đến cho. Xin thí chủ đợi ở đây một chốc, bần tăng đi nhanh về nhanh thôi.” Dứt lời liền xoay người bỏ đi.

Lục Kiều Kiều tay cầm búp bê vải, cao giọng gọi với theo: “Tôn Tồn Chân!”

Tôn Tồn Chân lập tức chống côn dừng bước, Lục Kiều Kiều nói với bóng lưng y: “Tôi muốn lên thăm chùa Tịnh Cư, ông cõng tôi đi.”

Tôn Tồn Chân không ngoái đầu lại: “Nam nữ thụ thụ bất thân, nếu Lục thí chủ khăng khăng muốn lên thăm chùa Tịnh Cư, có thể bảo các nữ thí chủ dìu lên.” Dứt lời rảo bước đi thẳng.

Lục Kiều Kiều biết cảnh giới Phật môn vô sắc vô tướng, một nhà sư thực sự vô tướng sao có thể để chuyện phân biệt nam nữ vào lòng? Nếu Vô Vị đại sư gặp phải chuyện này, nhất định sẽ sảng khoái nhận lời. Lục Kiều Kiều bèn chống tay xuống đất đứng dậy đuổi theo Tôn Tồn Chân, nhưng chỉ còn cách y mấy bước chân, cô lại không cẩn thận đá phải một ngọn thương gãy, vấp chân ngã nhào xuống đất, đau đớn rên lên đầy nũng nịu.

Bước chân Tôn Tồn Chân thoáng chậm lại một nhịp, nhưng không hề dừng lại, y hiểu rõ Lục Kiều Kiều đang thăm dò điều gì, nhưng trong lòng chẳng còn sức mà đỡ cô dậy nữa. Y đành rảo bước chạy xuống dốc núi, sau lưng chỉ nghe tiếng cười khanh khách như chuông bạc của cô vang vọng trong khe núi, cũng vang vọng trong lòng y.

Bình luận