Trảm Long - Trọn Bộ 4 Tập

Tập 4 - Chương 10: Tiểu Đao Hội


Dọc đường từ phủ Trấn Giang đến Thượng Hải đều là đồng bằng, đi ngựa rất thuận tiện. Dù nằm trong phạm vi khống chế của quân Thanh, nhưng có vỏ bọc nhà buôn Tây hãng White, lại có cả ông Tây chính cống là Jack để trưng ra, Lục Kiều Kiều và mọi người đã thuận lợi qua hết các trạm kiểm soát, ba ngày sau trót lọt tiến vào thành Thượng Hải.

Theo lời Jack thì thuyền Green vẫn đỗ tại bến Đổng Gia bên ngoài cửa Tiểu Nam đợi họ, nên sau khi theo cửa Nghi Phượng vào thành, họ không hề dừng lại, mà băng qua nội thành, từ cửa Tiểu Nam chạy đến bờ sông Hoàng Phố tìm thuyền Green.

Vừa rời khỏi cửa thành ra đến bờ sông, trước mắt họ chợt quang đãng hẳn, cảm giác vô cùng thân thiết, không ngờ sông Hoàng Phố lại giống đầm Bạch Nga ở Quảng Châu đến thế, thuyền buôn qua lại tấp nập trên sông, cột buồm san sát như một khu rừng nổi trên mặt nước. Từ dưới chân thành đến bờ sông chỉ cách nhau ngót một dặm, bãi sông đông nghẹt người, huyên náo khôn tả, hàng hóa không ngừng được khiêng qua khiêng lại ngay cạnh họ.

Lâu lắm rồi chưa được thấy cảnh thái bình thịnh thế, lúc này gương mặt mọi người đều không giấu nổi niềm vui. Cố Tư Văn luôn miệng nói: “Mở sạp ở đây thì phát tài to, xem kìa xem kìa, bao nhiêu người đều đeo vàng mang bạc đó!”

A Tầm ngồi trên vai Jack, Jack lại ngất nghểu đứng trên lưng ngựa, hai cha con trông như đang diễn trò, từ dưới chân thành nhìn quanh, Jack bảo A Tầm: “Bí Ngô bé bỏng ơi, trong những chiếc thuyền kia có một chiếc rất to rất to của con đấy, nếu con tìm thấy lá cờ xanh lục nhỏ, thì chính là nó.”

A Tầm đội mũ cao bồi của Jack, chu miệng nhìn quanh, quả nhiên trông thấy một lá cờ xanh lục giữa đám cột buồm san sát, vội vỗ vỗ đầu Jack reo lên: “Ba ơi, tìm thấy rồi! Thuyền to của con kia kìa!”

Jack xoạc chân ra ngồi xuống yên ngựa, huýt lên lanh lảnh rồi dẫn cả nhóm băng qua dòng người chạy về phía thuyền Green.

Họ lục tục từ dưới bến lên thuyền, song không thấy John Lớn, chỉ có một đám thủy thủ da đen đang cọ sàn, thấy Jack trở về, ai nấy đều mừng rỡ, nhao nhao chạy ra đón rồi xì xồ tiếng Anh chào hỏi. Lục Kiều Kiều mặc đám Tây đen Tây trắng hỏi han nhau, đi thẳng vào khoang thuyền, dắt theo cả đám An Long Nhi, chia cho họ hai phòng. Vì trên thuyền không có nhiều phòng, bọn An Long Nhi buộc phải chia nam nữ ra ngủ, giống hồi nhỏ ở trong gánh mãi võ, có điều họ rất thích cuộc sống tập thể gợi nhớ kỷ niệm xưa thế này, nên cứ chui qua chui lại giữa hai phòng, đùa cợt mãi không thôi.

Lục Kiều Kiều và An Long Nhi đều là đại phong thủy sư, như những phong thủy sư khác, họ cũng có thói hễ đến đâu đều phải xem phong thủy ngay, đây là lần đầu họ tới Thượng Hải, đương nhiên không thể bỏ qua cơ hội này. Lục Kiều Kiều đến trước cửa phòng nam gọi to: “Long Nhi, Long Nhi, lên boong xem phong thủy đi!” Giờ đương độ tháng Năm, đi hơn nửa ngày trời, ai nấy đều nóng nực, trong khoang thuyền lại khá bí bức, có phần hầm hập, An Long Nhi cởi áo dài ra, chỉ mặc một chiếc áo ngắn không tay, cầm la kinh mở cửa khoang bước ra, Lục Kiều Kiều vừa trông thấy cậu đã cười phá lên: “Ồ, bắp tay Long Nhi to thật đấy, thế mà cô chưa thấy bao giờ.”

Hành lang trên boong thuyền khá hẹp, hai người khó mà thoải mái chuyện trò, An Long Nhi và Lục Kiều Kiều phải đứng sát cạnh nhau, gần đến nỗi có thể ngửi thấy mùi cơ thể đối phương. Lục Kiều Kiều bước ra sau lưng An Long Nhi, đưa ngón tay vạch ống tay áo cộc của An Long Nhi nhìn vào trong.

Lục Kiều Kiều đứng thẳng cũng chỉ cao đến vai An Long Nhi, tầm mắt nhìn ngang lưng cậu, trong mắt cô, bờ vai rộng luôn đeo cây Lôi thích của An Long Nhi chẳng khác nào một bức tường vững chãi, khiến cô nảy sinh khao khát muốn tựa vào.

An Long Nhi ngoái lại hỏi: “Cô Kiều, xem cái gì ạ?”

“Vết đao chém trên lưng còn đau không?” Lục Kiều Kiều thấy trên lưng An Long Nhi không chỉ có một vết đao, nhưng năm xưa ở Cát An từng bị trọng thương, vết sẹo vừa sâu vừa dài ấy vẫn lồ lộ rất rõ.

An Long Nhi cười đáp: “Không đau nữa rồi, chúng ta lên đi, cháu cầm cả la kinh này.”

Hai người nhanh chóng lên đến boong thuyền, Cố Tư Văn nghe nói họ đi xem phong thủy cũng lẵng nhẵng chạy theo.

Thuyền Green có ba cột buồm lớn, lúc ra biển có thể kéo buồm đón gió, thân cột có nấc thang để trèo lên đỉnh nhìn ra xa, chót vót cao nhất trên cột buồm là lá cờ tam giác xanh lục, đang phất phơ bay trong gió Đông Nam.

Họ biết rõ Thượng Hải là vùng đồng bằng, xung quanh không có núi cao, không thể lên núi xem phong thủy, cách tốt nhất là trèo lên đỉnh cột buồm, từ đó có thể nhìn bao quát cả thành.

An Long Nhi đạp vào thân cột nhẹ nhàng leo lên, thoăn thoắt nhảy qua đu lại giữa mấy cột buồm như khỉ, lên cao đến mười mấy thước mới đứng lại, nói vọng xuống với Lục Kiều Kiều bên dưới: “Cô Kiều, để cháu kéo cô lên.”

Lục Kiều Kiều cười lắc đầu, rồi nhanh nhẹn chạy đến đầu thuyền, hít sâu một hơi, khẽ quát một tiếng, vận nội đan từ đan điền lên, thân hình bay khỏi sàn thuyền như bươm bướm, giẫm lên sợi thừng lớn buông từ đỉnh cột buồm xuống, dang hai tay ra giữ thăng bằng rồi chạy thẳng một mạch lên vị trí cao nhất thuyền Green.

Jack, Cố Tư Văn và toàn bộ đám thủy thủ da đen trên boong thuyền ồ lên kinh ngạc, A Tầm trỏ Lục Kiều Kiều reo lên: “Mẹ Kiều bay lên rồi kìa, ba Long cũng bay đi!”

An Long Nhi cười vẫy tay với A Tầm, cũng vận đan khí nhảy nhót giữa các cột buồm như con thoi, vút lên đuổi theo Lục Kiều Kiều, còn nghe thấy tiếng A Tầm lảnh lót bảo Jack: “Ba Jack cũng bay lên đi!”

Nhưng ba Jack và ba Văn đều không biết bay, Jack nhún vai, bất lực đứng dưới xem náo nhiệt, trong khi Cố Tư Văn ngoan ngoãn theo nấc thang trèo lên cột buồm.

Sông Hoàng Phố chảy từ phía Nam lên phía Bắc, vòng qua phía Đông thành Thượng Hải, bao quanh tường thành hình vòng cung, gần như ôm trọn lấy nửa thành, Lục Kiều Kiều đứng trên đài quan sát nhỏ ở đỉnh cột buồm nhìn về phía Bắc, thấy phía Bắc thành lại có một dòng sông chảy về phía Đông, giao với sông Hoàng Phố ở góc Đông Bắc thành, đây chính là sông Tô Châu chín khúc mỹ lệ.

Địa hình dòng chảy này gọi là cửa sông chĩa ba, cùng một dạng với đầm Bạch Nga tại Châu Giang Quảng Châu. Chỉ khác là, đầm Bạch Nga ở Quảng Châu nằm ở đầu nguồn nước đổ vào thành, còn chỗ giao nhau giữa hai con sông ở Thượng Hải lại nằm ở cuối dòng chảy ra khỏi thành, do vậy những biến hóa dữ lành trong đó không thể nói là nhỏ được.

Đài quan sát rất hẹp, vốn chỉ đủ chỗ cho một người đứng, hiện giờ An Long Nhi thân hình to lớn đã chiếm trọn, Lục Kiều Kiều đành chen vào bên cạnh, áp sát An Long Nhi, chẳng rõ là cố ý hay vô tình, cả hai đều chẳng nề tiểu tiết, không hề có ý tránh né.

Lục Kiều Kiều vừa bước lên nhìn đã trầm trồ: “Ồ, phát đạt, phát đạt, nơi này tốt ghê!”

An Long Nhi ngoái đầu nhìn quanh nói: “Nếu chúng ta không sống ở Quảng Châu, cháu nghĩ cô nhất định rất thích nơi này.”

Lục Kiều Kiều cười rạng rỡ, thuận miệng hỏi: “Tại sao?”

“Một dải Giang Hoài là long địa bình dương, long mạch thoát tú hoàn toàn, Thượng Hải phía Đông là biển, phía Bắc dựa vào Trường Giang, lại là đất cán long đại kết ở phía Nam Trung Hoa. Xung quanh sông lớn mênh mông mà êm ả, hoàn toàn không có núi cao vút lên làm tiết mất long khí, long khí ở đây ẩn tàng chứ không phát lộ, cuồn cuộn dồi dào bất tận, hoàn toàn có thể trở thành đất giao thương nổi tiếng.”

An Long Nhi chưa nói hết, Lục Kiều Kiều đã hào hứng reo lên: “Tốt quá tốt quá, chúng ta mua một miếng đất ở đây đi, nhất định sẽ phát tài to, ha ha ha…”

“Nhưng phải xem thời điểm đã, cháu e rằng nơi này sắp xảy ra chuyện rồi…”

Lục Kiều Kiều đứng trước gió nhìn về nơi giao nhau giữa hai sông Tô Châu và Hoàng Phố, hiểu ra ngay vấn đề An Long Nhi nói nằm ở đâu. Cô cười: “Long Nhi cũng biết làm ăn rồi đấy, thấy lúc nào giá đất hời nhất, Long Nhi ra tay mua thì cô cũng mua theo.”

An Long Nhi và Lục Kiều Kiều có thứ ngôn ngữ chung mà người ngoài không thể nào hiểu được, cậu vui vẻ cầm la kinh đo đạc sông ngòi bốn phía, tính toán vận đất và giá cả lên xuống của các khu vực trong thành. Vừa rồi, dường như Lục Kiều Kiều mới phát hiện ra, An Long Nhi không phải người trầm lặng ít lời, nếu cậu muốn nói, có thể nói thao thao bất tuyệt suốt nửa ngày, hơn nữa còn rất dí dỏm thú vị, khiến phụ nữ thích mê.

Jack chống nạnh đứng dưới boong thuyền ngẩng đầu nhìn Lục Kiều Kiều và An Long Nhi đứng chót vót trên cao chỉ chỉ trỏ trỏ, nói nhỏ cười to, chỉ muốn trèo lên nghe xem họ nói gì, nhưng cột buồm bên dưới đài quan sát đang có Cố Tư Văn trèo, chẳng còn chỗ cho anh leo lên nữa. Cố Tư Văn thoăn thoắt ôm cột leo như vượn, lắng tai nghe hai đại phong thủy sư trên đỉnh đầu phân tích, đồng thời phóng mắt nhìn theo tay họ chỉ, lúc thì gật đầu như nghĩ ra điều gì, lúc lại cười ngớ ngẩn hùa theo hai người kia.

Lục Kiều Kiều và An Long Nhi đứng trên đài quan sát xem xét hồi lâu, còn ngắm mặt trời lặn xong mới chịu xuống. Tay người Mỹ béo ị John Lớn cũng hối hả về thuyền Green gặp mọi người, sau một hồi mừng rỡ hỏi han, John Lớn bèn đề nghị dẫn mọi người đi ăn đặc sản Thượng Hải.

Lục Kiều Kiều cười bảo John Lớn mặt bóng loáng dầu: “Dọc đường chúng tôi đều đói trơ xương, còn anh ở đây ăn đến mép nhờn mỡ, lần này anh nhất định phải dẫn bọn tôi đi ăn món gì ngon ngon đấy nhé, đừng có đem mấy thứ rau dưa ra gạt bọn tôi.”

Cặp mắt ti hí của John Lớn vẫn giảo hoạt như xưa, anh ta hấp háy mắt cười đáp: “Toàn là món ngon của riêng Thượng Hải, cô ăn một bữa thì biết ngay, nếu cô là mỹ nữ, nhất định sẽ thích ăn, nào, các em bé Trung Quốc, mau thay quần áo đẹp xuất phát thôi.” Lời nói của John Lớn rất có sức nặng với phụ nữ, các cô vội vã rửa mặt chải đầu rồi tức tốc moi bộ đồ sạch đẹp nhất trong rương ra mặc, dưới sự hộ tống của đám đàn ông, họ lại bước vào cửa Tiểu Nam đi thẳng tới Dự Viên phồn hoa ở thành Bắc.

Mọi người ngồi xe ngựa đi đến gần Dự Viên đã thấy hoa đăng bắt đầu được thắp lên. Đám bọn họ đã quá lâu chưa vào thành, cũng rất lâu chưa được ăn ngon, dọc đường thấy thứ gì là thèm thuồng thứ đó, John Lớn phải rất nhiều lần dùng bạo lực ngăn cản mọi người mua đồ ăn nhưng vô hiệu, chẳng mấy chốc, trên xe đã ngổn ngang túi giấy đựng kẹo mứt lê và đậu năm vị, ai nấy đều nhai nhóp nhép, nào bánh nướng vỏ cua nào bánh xốp táo, trong tay A Đồ cách cách và Sái Nguyệt mỗi người bưng một bát bánh trôi nhân hoa quả chưng rượu, vì vội lên đường, lại không thể nhịn thèm, hai cô đành mua luôn cả bát của cửa hiệu bưng lên xe ăn.

John Lớn xuống xe, lắc đầu đầy tiếc rẻ: “Đám ngốc nghếch các người phá hỏng bữa cơm ngon hôm nay rồi…”

Cố Tư Văn quẹt miệng thật thà đáp: “Chúng em vẫn ăn được nữa mà!”

Dự Viên là một khu viên lâm rộng lớn do các văn sĩ thời Minh dựng nên, diện tích hơn ba mươi mẫu, chủ nhân của nó tốn mấy chục năm mời hết các thợ làm vườn giỏi nhất tới, dốc hết thu hoạch hằng năm từ đồng ruộng vào đây, mới mở rộng ra thành khu vườn được công nhận nổi tiếng hàng đầu phía Đông Nam, thuộc hạng xuất chúng trong số các viên lâm Giang Nam.

Vốn dĩ chủ vườn nói muốn xây khu vườn này cho cha mẹ an hưởng tuổi già, song vườn xây xong chưa được bao lâu thì cha mẹ qua đời, nơi này trở thành chốn thưởng ngoạn riêng của chủ nhân, ngày ngày y đều ở đây ăn uống mua vui, sau cùng tán gia bại sản, Dự Viên cũng bắt đầu đổi chủ liên tục.

Đến giữa thời Thanh, các thân sĩ văn nhân Thượng Hải bèn góp tiền mua lại, biến nó thành một địa điểm công cộng, ngay sau đó, hàng loạt hội quán các địa phương kéo cả vào đây, quán trà, hàng ăn, gánh hát, thương nhân cũng nườm nượp xuất hiện. Bước vào Dự Viên, Lục Kiều Kiều cảm thấy như vào thiên đường vậy. Dù xuất thân trong nhà thế gia thư hương, nhưng cô rất thích náo nhiệt ồn ã, khi John Lớn dẫn bọn họ tới Hương Tuyết đường, còn nghe văng vẳng từ xa giọng hát kịch Hoa Cổ[68], tuy ngồi đây không phải người Tây thì là người Quảng Đông, chẳng một ai nghe hiểu được khúc hát ấy, nhưng làn điệu du dương êm tai đầy vẻ quyến rũ của Giang Nam vẫn khiến cả đám thích thú.

Ai nấy vừa yên vị, chủ quán đã hối hả gọi với vào trong Hương Tuyết đường lên món, thì ra John Lớn đã đặt sẵn bàn và món ăn ở đây, chẳng để phí chút thời gian nào. Canh gà xé và cơm tấm Thượng Hải thơm nức, món cá trắm đen kho tàu, món kết ba sợi dùng đủ loại thịt thái chỉ kết thành hình như tú cầu, món tôm nõn rang trơ trọi chẳng thấy nước xốt, ăn vào lại ngon đến rụng cả lưỡi, khiến mọi người xuýt xoa trầm trồ không ngớt. Móng giò hầm và vịt bát bảo rất được đám đàn ông hoan nghênh, chẳng mấy chốc đã bị gặm sạch, chỉ còn trơ xương gói lại đem về cho Đại Hoa Bối. Ăn hết món cá hấp quế lại nếm sang rau La Hán, John Lớn còn gọi riêng món ba ba chưng đường phèn cho các chị em, giới thiệu rằng món này có thể khiến các cô càng thêm xinh đẹp. Món ăn Thượng Hải trong mặn có ngọt, tươi ngon thơm phức, vốn rất hợp khẩu vị phái nữ, lúc này lại thấy bưng lên canh cá sạo tươi nấu cải thìa nóng hổi ăn cho bớt ngấy, mọi người ăn đến bò lăn ra bàn, gương mặt đầy vẻ thỏa mãn pha lẫn đau khổ… No quá đi mất!

Ăn xong bữa cơm, ai nấy đều no căng không thể nhúc nhích, ngậm tăm trong miệng nói huyên thuyên đủ chuyện trên trời dưới đất. Cố Tư Văn lảo đảo đứng dậy bước đến bên cửa sổ ngắm cảnh viên lâm, trông thấy bên ngoài cửa có ba tảng đá lớn hình thù kỳ quái, dưới ánh đèn càng lộ vẻ thần bí và đáng sợ. Ba khối đá này cao thấp lộn xộn, tảng ở giữa cao chừng một trượng; các tảng đá đều chi chít lỗ hổng, hình dạng méo mó, tảng đá cao nhất cũng nhiều lỗ hổng nhất, hệt như một quả mướp dài, nếu rót nước từ trên đỉnh nhất định có thể chảy xuyên qua lõi đá xuống đến đáy. Cố Tư Văn hỏi mọi người: “Các người nhìn xem, ba tảng đá kia là cái gì thế?” Lục Kiều Kiều am hiểu văn vật, thoạt nhìn đã nhận ra đồ quý. Cô cũng lảo đảo bước đến bên song đáp: “Ba tảng đá này là cực phẩm trong kỳ thạch thiên hạ, cũng chẳng biết được chuyển từ đâu tới, có điều nhìn mức độ nhăn này, có lẽ là vật chỉ hoàng thượng mới có.”

John Lớn tò mò hỏi: “Hoàng thượng Đại Thanh cũng thích thứ quái lạ này ư? Nó dùng làm gì vậy?”

Trong cả đám, chỉ có Lục Kiều Kiều kiến thức sâu rộng nhất, dẫu sao chơi đá cũng là một trong những thú vui đặc thù của giới văn sĩ Trung Hoa, dù cô không thích, cũng từng đọc được không ít trong sách cổ, bèn giải thích với John Lớn: “Anh không thưởng thức được thứ này đâu, thưởng đá chia ra làm bốn phẩm, gầy, rò, thông, nhăn, phải là đá thiên nhiên không qua gọt giũa, lại đủ cả bốn phẩm và nguyên khối lớn thế này, mới có giá trị thưởng thức, nếu gánh lên thuyền chuyển đến Bắc Kinh bán cho vương gia, có khi đáng giá liên thành đấy.”

Cố Tư Văn nói: “Em thấy trên khối đá này đầy lỗ là lỗ, nhất định sẽ rò nước.”

An Long Nhi lại góp lời: “Quý thì quý thật, có điều đặt tại đây chẳng ích lợi gì.”

A Đồ cách cách cũng tham gia: “Tôi nghe các a ca nói loại này gọi là đá lụn bại, những vương gia chơi thứ này chẳng mấy ai giữ được gia tài.”

Lục Kiều Kiều nói: “Chuyện này chẳng mấy liên quan đến giá trị hòn đá, chủ yếu là những tảng đá hình thù kỳ quái này đều ở trong rừng sâu núi thẳm, vận chuyển vừa tốn thời gian lại tốn tiền, mỗi năm mỗi tốn, tới khi chuyển đến thì đã hao tổn một món tiền lớn trong nhà rồi.”

“Còn có ảnh hưởng đến phong thủy nữa.” Đầu óc An Long Nhi lúc nào cũng nghĩ đến phong thủy, lời này của cậu khiến mọi người càng tò mò hơn.

Ngược lại, Lục Kiều Kiều xua tay bảo: “Long Nhi, chúng ta xem phong thủy chưa thu tiền thì không mở miệng.”

Cô vừa dứt lời, ngoài song cửa chợt truyền đến một tràng cười lén lút. Mọi người nhìn ra ngoài, thấy mấy người đàn ông ăn mặc theo lối nhà buôn đang đứng trước tảng đá hình thù kỳ dị, trong đó có một kẻ thấp bé gầy gò, tay cầm quạt giấy, vừa quay đầu lại ai nấy liền nhận ra ngay, gương mặt thô tục để hàng ria con kiến chính là Kim Lập Đức, cao thủ phong thủy của phủ Quốc sư.

Lục Kiều Kiều khẽ bảo một câu: “Kim Lập Đức.” Tức thì mọi người đều im bặt không nói gì nữa.

Ở đây chỉ trừ John Lớn chưa từng gặp Kim Lập Đức, những người khác đều đã giao đấu hoặc nghe nói đến y, tuy biết rõ thân phận của Kim Lập Đức, nhưng không ai đoán được vì sao y lại xuất hiện ở đây, càng không biết An Thanh Nguyên có ở gần đó hay không, bầu không khí lập tức trở nên căng thẳng.

Kim Lập Đức thong thả bước lại trước cửa, chắp tay chào mọi người: “Lâu quá không gặp, chúng ta cũng có thể coi như bạn cũ, sao các vị lạnh nhạt thế. Để Long Nhi giảng giải về phong thủy của hòn đá này đi, tôi cũng muốn học hỏi.”

An Long Nhi và Kim Lập Đức rất có duyên, từng đấu với nhau như hai kẻ địch, đã mấy lần An Long Nhi được Kim Lập Đức thả đi ngay trước mặt mọi người, có thể nói, mỗi lần giao đấu với phủ Quốc sư giành được thắng lợi, Kim Lập Đức đều góp công lao. Chỉ tiếc y luôn đi theo An Thanh Nguyên, xưa nay chẳng hề thấy có gì bất mãn với Đại Thanh, An Long Nhi trước giờ vẫn không hiểu nổi hành vi của Kim Lập Đức, cũng không phân định được người này là địch hay bạn.

Cậu cũng chắp tay nói với Kim Lập Đức: “Kim đại nhân chê cười rồi, nghe Đặng đại ca kể ông là phong thủy sư trong đại nội, tiền bối của bọn tôi, Long Nhi nào dám phô cái xấu trước mặt ông. Chẳng hay ý kiến của Kim đại nhân ra sao?”

Kim Lập Đức mỉm cười gật đầu chào Jack, rồi quay người trỏ tảng đá giảng giải: “Khối đá này gọi là Ngọc Linh Lung, cùng với Thụy Vân Phong ở Tô Châu, Trứu Vân Phong ở Hàng Châu, được xưng tụng là ba khối đá kỳ lạ nhất Giang Nam, nhưng luận về tinh xảo đặc sắc thì nó đứng hàng đầu. Tôi chỉ muốn học hỏi xem khối đá nổi tiếng thế này sẽ ảnh hưởng phong thủy thế nào thôi, không có ý gì khác, hiếm hoi lắm mới có lần gặp gỡ cùng dạo vườn đẹp, các vị ngại gì bỏ hết phiền não trong lòng, ngồi xuống chuyện phiếm có hơn không.”

An Long Nhi quan sát mấy người đàn ông bên cạnh Kim Lập Đức, thấy đều mày thanh mắt sáng, dáng dấp như người bản địa, xét tướng mạo lại không phải quan lớn trong triều, chắc hẳn là thân sĩ địa phương, bèn bước ra vườn nói với Kim Lập Đức: “Kim đại nhân, công lực phong thủy của Long Nhi còn non kém, nếu nói sai, xin ngài chỉ bảo thêm cho.”

Kim Lập Đức khách khí cười đáp: “Đâu dám đâu dám, chỉ là chuyện gẫu thôi mà, mời Long Nhi giảng giải.”

An Long Nhi ngẩng đầu nhìn tinh tú trên trời, thấy ngay sau lưng Ngọc Linh Lung là hướng sao Nam Đẩu, bèn nói với Kim Lập Đức: “Ba khối này tuy là đá, nhưng hình dạng không xác định, ở giữa lại rỗng không, chính là tượng Hỏa của quẻ Ly; tảng đá có tượng Hỏa đã là hỏa khí ác hình, ở đây còn đặt tận ba khối, ứng với số ba trong quẻ Ly, tính hỏa càng mạnh. Ngọc Linh Lung đặt ở hướng chính Nam Hương Tuyết đường, mà phương Nam thuộc Hỏa, lửa chồng lửa như thế, sẽ khiến Hương Tuyết đường gặp hỏa hoạn, cháy trụi trong lửa.”

“Ồ, quả là cao kiến, tôi cũng nghĩ thế, xem ra chúng ta chí lớn gặp nhau rồi.” Kim Lập Đức mím miệng gật đầu, đoạn hỏi: “Vậy cậu xem xem trận lửa này khi nào thì xảy ra?”

An Long Nhi chắp tay vái Kim Lập Đức: “Long Nhi tài hèn, không tính ra được, xin thỉnh giáo Kim đại nhân.”

Kim Lập Đức chắp tay sau lưng quay lại nhìn An Long Nhi bật cười: “Ha, cũng biết giấu nghề rồi đấy, cậu không nói tôi cũng không nói, ai giữ miệng nấy, ha ha ha…”

Lục Kiều Kiều biết An Long Nhi muốn giữ sĩ diện cho Kim Lập Đức trước mặt bạn bè, cũng không muốn bộc lộ nhiều công phu thực sự, nên chỉ nói chừng mực mà thôi, mẹo vặt này chẳng khéo léo gì cho cam, nhưng với kẻ chính trực như An Long Nhi, đã là một bước tiến mới rồi. Cô bèn bước ra nói thẳng với Kim Lập Đức: “Kim đại nhân lần này không chỉ đến du ngoạn đâu nhỉ.”

Kim Lập Đức lập tức xòe quạt ra che miệng đáp: “Đại ca cô đang ở Trấn Giang, chẳng mấy chốc sẽ đến đây, cô cũng đừng rong chơi khắp nơi nữa, không có việc gì thì về nhà đi.”

Một bên Kim Lập Đức nói, bên kia Lục Kiều Kiều chắp tay sau lưng, ngón tay âm thầm bấm quẻ, bấm xong, cũng xác định được là Kim Lập Đức nói thật, bèn chắp tay bảo y: “Đa tạ Kim đại nhân, tôi mua ít hàng Tây sẽ đi ngay, ngài còn việc gì không?”

Kim Lập Đức vội gấp quạt lại cười ha hả: “Không có gì không có gì, tôi xin cáo từ, mọi người bảo trọng.” Đoạn cùng hai người kia thả bộ về phía sân khấu trong Dự Viên.

Mọi người dõi mắt nhìn theo Kim Lập Đức, Lục Kiều Kiều hào hứng đề nghị: “Long Nhi, chúng ta bám theo Kim Lập Đức đi.”

Đề nghị này rất có tính kích động, từ trước đến nay, chỉ có họ bị phủ Quốc sư bám đuôi, xưa nay chưa thử theo dõi phủ Quốc sư bao giờ, lần này có cơ hội báo thù, đương nhiên phải dốc sức nắm lấy, huống hồ họ đều muốn biết người của phủ Quốc sư xuất hiện ở đây làm gì. Jack và Cố Tư Văn nghe nói lập tức hưởng ứng: “Bọn tôi cũng đi.”

Lục Kiều Kiều bảo họ: “Hai người tưởng theo dõi là đi chơi hội chùa hay sao, đông người quá không ổn đâu, tôi và Long Nhi chạy nhanh, chúng tôi đi là được rồi. Các người trả tiền rồi về thuyền ngủ trước đi, chừng nào về chúng tôi kể chuyện cho nghe.”

Lục Kiều Kiều nói rất có lý, thực ra mọi người đi ròng rã mấy ngày đều mệt lử cả rồi, đâu được sung sức như hai vị đạo sĩ đây cả đêm không ngủ cũng chẳng hề hấn gì. Nhưng Jack vẫn hết sức lo lắng, khăng khăng đòi theo Lục Kiều Kiều, cô phải trấn an: “Đây là thành thị lớn, không xảy ra chuyện được đâu, huống hồ còn có Long Nhi ở đây, anh lo gì chứ, ngoan nào, đưa A Tầm về nhà ngủ đi, anh xem nó sắp ngủ gục rồi kìa.”

Jack thấy vậy đành bảo An Long Nhi: “Cậu bảo vệ cô ấy giúp tôi nhé, nhất định đừng làm chuyện gì nguy hiểm đấy.”

Jack vừa dứt lời, Lục Kiều Kiều và An Long Nhi thoắt cái đã vọt ra khỏi cửa lớn Hương Tuyết đường, hối hả trà trộn vào dòng người, mắt không rời Kim Lập Đức.

Kim Lập Đức rất đàng hoàng, y và hai tay thân sĩ xem kịch ở Điểm Xuân đường xong, lại đến kỹ viện phố Hội Lạc ở thành Bắc uống rượu hoa, nhốn nháo mãi đến hết canh ba mới được mấy cô nương trong đó dìu ra, hai người thấy Kim Lập Đức đã uống say khướt, loạng choạng bò lên một cỗ xe ngựa chạy thẳng về phía Đông thành. Lục Kiều Kiều và An Long Nhi lập tức cúi đầu lặng lẽ bám theo từ xa.

Xe ngựa đi đến con phố cạnh nha môn, tại đó có một khách điếm chuyên tiếp đãi quan lại trong kinh, cửa đóng chặt, trước cửa treo hai ngọn đèn lồng. Kim Lập Đức nắm lấy vòng cửa đập một hồi, vệ binh bên trong bèn ra mở cửa đỡ vào.

Lục Kiều Kiều và An Long Nhi phi thân nhảy lên, nằm phục trên bờ tường khách điếm, thấy Kim Lập Đức đi vào một gian phòng trên tầng hai, liền nhẹ nhàng chạy trên nóc nhà lần đến. An Long Nhi rất giỏi nghe lén từ trên mái, còn Lục Kiều Kiều mới lần đầu làm chuyện này nên rất háo hức muốn thử khoái cảm nghe lén, cứ phải mím môi cố không phát ra tiếng. An Long Nhi dắt tay cô đi trên mái ngói.

Cứ đo bước chân, sang trái ba trượng, sang phải bảy trượng, chẳng mấy chốc đã đến đúng mái phòng Kim Lập Đức, An Long Nhi lại cạy ngói lên như thường lệ, lập tức một tia sáng nhỏ lọt ra từ khe ngói tối om, An Long Nhi vừa ghé mắt nhìn xuống đã bị Lục Kiều Kiều đang bừng bừng hưng phấn nắm áo kéo ra, thò đầu vào khe ngói nhìn tranh.

Đập vào mắt cô là một bức thư pháp chữ lệ, nét chữ cứng cỏi, bút pháp cẩn trọng mà chắc chắn, công lực khá xuất chúng, dưới ánh đèn dầu, chỉ thấy vết mực còn tươi rói, bên trên viết: “Biết người là trí, biết mình là minh. Thắng người là có vũ lực, thắng mình là mạnh. Biết đủ là giàu, kiên trì là có chí. Không mất điểm tựa là bền, chết mà không mất là thọ.”

Đây là chương ba mươi ba trong Đạo Đức kinh của Lão Tử, từ nhỏ Lục Kiều Kiều đã thuộc như cháo chảy, cô chỉ thấy lạ là Kim Lập Đức uống rượu hoa đã say túy lúy, sao về nhà lại ngồi ngay vào bàn luyện chữ vậy? Thói quen này thật khác người.

An Long Nhi kéo Lục Kiều Kiều ra ghé mắt nhòm vào, thấy một mái đầu to tướng chắn trên giấy, đang thay một tờ giấy khác, rồi vung bút viết tiếp. An Long Nhi ngẩng lên ra hiệu với Lục Kiều Kiều, đặt tay lên môi rồi làm động tác ngủ, ý nói Kim Lập Đức đã ngủ rồi. Lại làm động tác viết chữ, rồi giơ ngang ngón cái trỏ sang bên cạnh, tỏ ý kẻ viết chữ là người khác.

Lục Kiều Kiều ghé lại nhòm, thấy người kia đã viết xong, khoanh chân chỉnh lại vạt áo, ngồi ngay ngắn trước bàn, bất động. Trên giấy viết một bài thơ ngắn: “Vợ chồng trẻ trên mái, Cạy ngói lén xem người, Không giết không cướp của, Mở cửa mời vào chơi.” Lục Kiều Kiều kinh ngạc ngẩng lên trợn tròn mắt nhìn An Long Nhi, rồi dùng ngón tay trỏ vào khe ngói, An Long Nhi ghé đầu lại nhìn, cũng lộ vẻ ngạc nhiên không kém cô.

Bên dưới mái ngói chợt nghe két một tiếng, rõ ràng cửa sổ đã mở, hai người nhìn nhau, thầm biết đối phương đang chờ cá chui vào rọ, quả là hiếm thấy trong thiên hạ. Người bên dưới tính được kẻ nhìn trộm là ai, còn tính được tại sao họ đến, rồi mở cửa sổ mời hai tên trộm vào phòng gặp mặt, chẳng rõ là giữ thể diện cho họ hay làm mất mặt họ đây?

An Long Nhi và Lục Kiều Kiều nào phải hạng vừa, cũng có thể bấm quẻ đoán ra dụng ý đối phương, chỉ thấy trong quẻ không có sát cơ; huống hồ bên dưới chẳng qua là Kim Lập Đức và đồng liêu của y, nếu Kim Lập Đức muốn giết An Long Nhi thì đã giết từ bảy năm trước, cần gì đến giờ mới lén lút hạ thủ, bởi vậy xét tình xét lý cũng chẳng có gì to tát. An Long Nhi bèn để Lục Kiều Kiều ở lại trên mái, rồi xoay mình sử ra một chiêu cuốn rèm ngược tuyệt đẹp, nhảy qua cửa sổ vào phòng.

Trong phòng đơn sơ sạch sẽ, Kim Lập Đức say khướt ngồi dựa vào chiếc ghế bát tiên, đang uể oải cười liếc An Long Nhi, giữa phòng bày một chiếc bàn bát tiên lớn, gã đàn ông ngồi khoanh chân bên bàn thân hình cường tráng, mày rậm mắt to, mặt vuông trán đầy, giữa đôi mày toát lên chính khí. An Long Nhi nhận ra kẻ này chính là Khưu Cẩn Ngôn bị Lục Kiều Kiều đánh gãy chân trên núi Kê Đề bảy năm trước, ở dốc Thập Tự núi Nam Côn, cũng là y nổ súng bắn vào tay cậu, bọn họ đã dùng súng giao lưu, kết một mối duyên không thể nói là không sâu.

Khưu Cẩn Ngôn thấy chỉ có mình An Long Nhi xuống, bèn cất giọng trầm trầm: “Ra là ngươi, vậy người kia hẳn là Lục Kiều Kiều rồi, trên mái gió lạnh, mời cô ấy xuống ngồi chơi đi.”

Vừa dứt lời, Lục Kiều Kiều đã nhẹ nhàng nhảy qua cửa sổ, trông thấy kẻ viết chữ chính là người áo đen bị mình nổ súng bắn gãy chân năm xưa, cũng hết sức bất ngờ. Cô chắp tay chào Khưu Cẩn Ngôn: “Nhiều năm không gặp, không ngờ lại gặp ông ở đây, vết thương ở chân đã khỏi hẳn chưa?”

Khưu Cẩn Ngôn không đứng dậy, chỉ hơi cúi người, xem như đáp lễ Lục Kiều Kiều: “Chân trái không cử động được nữa, song vẫn có thể chống gậy đi mấy bước. Tối nay vốn dĩ còn mấy người khác đến, tôi đã đặt sẵn mai phục xung quanh, song hai vị đến đây là việc bất ngờ, tuy lão phu rất ngạc nhiên vì các người lên đến nóc nhà lão mới tính ra được lai lịch, may mà còn tính được không phải tới hành hung, bằng không giết nhầm người vô tội thì hỏng.” Nói đoạn, y vỗ vỗ vào đùi mình, bấy giờ Lục Kiều Kiều mới thấy trên đùi y đặt hai khẩu súng ngắn, chỉ là bị bóng chiếc bàn che khuất, không dễ gì trông thấy.

Lục Kiều Kiều biết Khưu Cẩn Ngôn không tính được đường đi nước bước của cô, bởi cô đã vứt bỏ vận mệnh, kẻ vứt bỏ vận mệnh thì khí ngũ hành là một khối hoàn chỉnh, dùng quẻ bói dựa theo nguyên lý ngũ hành khó mà đoán ra, trừ phi đan khí của bản thân đến bên cạnh người bói quẻ, người này cũng phải có đủ đạo hạnh thì mới ngẫu nhiên cảm nhận được, bằng không, đối với những kẻ bói quẻ, Lục Kiều Kiều chỉ là một người tàng hình.

Nghe Khưu Cẩn Ngôn nói vậy, An Long Nhi liền cảnh giác bấm quẻ tính toán. Khưu Cẩn Ngôn nói: “Không cần tính nữa, đêm nay có người đến hành thích chúng tôi, hơn nữa sẽ tới ngay bây giờ đây. Các vị không tới hành thích, vậy cũng không phải đồng đảng của đám người kia, chẳng hay hai vị tới làm gì vậy?”

Sau lần đầu giao đấu với Khưu Cẩn Ngôn, Lục Kiều Kiều đã biết trình độ phong thủy thiên tinh, ảo pháp thiên tinh và tài bói quẻ của y, hiểu rõ độ chính xác trong quẻ y bói rất cao, nên những lời này không thể không tin được. Cô bèn nói với y: “Năm xưa động đao động súng với nhau là bởi tình thế bức bách, dân nữ xin lỗi ngài. Còn chưa biết quý tính đại danh của tiền bối đây?”

“Lão tên Khưu Cẩn Ngôn.”

“Khưu đại nhân, chúng tôi đến đây chỉ muốn tìm hiểu mục đích của các vị, chứ không có ý gì khác.”

Khưu Cẩn Ngôn thở dài: “Ai cũng muốn biết mục đích của chúng ta, kẻ không biết thì muốn ra tay với chúng ta, nếu ai cũng như cô, đến hỏi một tiếng, có lẽ thiên hạ đã chẳng xảy ra nhiều chuyện như vậy. Nơi này sẽ xảy ra một trận ác chiến ngay bây giờ, hai vị nhất định không thể đi được, muốn xem náo nhiệt, hay giúp đám thích khách đây?”

An Long Nhi bước đến giữa Khưu Cẩn Ngôn và Kim Lập Đức, đó là một vị trí có lợi, có thể ra tay khống chế cả hai người. Cậu đáp: “Vậy phải xem hai vị đại nhân đến Thượng Hải làm gì đã?”

“Giờ không có thời gian nói với cậu nữa, thích khách đến rồi.” Khưu Cẩn Ngôn vừa dứt lời, trên mái ngói liền vang lên tiếng chân khe khẽ, nghe tiếng có vẻ không dưới mười người. Y nhanh nhẹn cầm súng bắn liền hai phát lên mái, thủ pháp hệt như Jack, xem ra cũng dốc nhiều tâm sức luyện bắn súng, hẳn là sau khi bị Lục Kiều Kiều đánh gãy chân trái, đã ngộ được đạo lý đao không thể nhanh, chuẩn, độc bằng súng được.

Nghe tiếng hai người ngã lăn từ trên mái xuống, rồi xung quanh dậy lên tiếng la hét, bốn bề khách điếm bỗng sáng rực đèn đuốc, cửa phòng bị đẩy bật ra, bốn tên nha dịch lăm lăm đao xông vào. Trông thấy Lục Kiều Kiều và An Long Nhi đang nấp bên tường, chúng ngạc nhiên ra mặt, nhưng thấy đôi nam nữ thanh niên này không giống thích khách nên cũng chẳng hỏi nhiều, chỉ dồn hết sự chú ý vào nóc nhà.

Kim Lập Đức vẫn ngồi tựa vào ghế, trông bộ dạng muốn mà không thể cử động này dường như là say thật, không phải vờ vĩnh, song Lục Kiều Kiều và An Long Nhi đều không hiểu vì sao y biết rõ tối nay thích khách sẽ đến mà còn đi uống rượu hoa say khướt thế này. Nhưng tình hình trước mắt không thể nghĩ nhiều, một bóng người từ ngoài cửa sổ thình lình lao vào, Khưu Cẩn Ngôn liền giơ súng lên bắn cho kẻ đó ngã nhào ra ngoài, lăn xuống giếng trời ở lầu một.

Cùng lúc Khưu Cẩn Ngôn nổ súng, mái nhà cũng lủng ra một lỗ lớn, ngói vụn rơi rào rào xuống đầu y như mưa. Lục Kiều Kiều và An Long Nhi quả nhiên khoanh tay bàng quan, lách vào sát tường xem náo nhiệt, trơ mắt nhìn Khưu Cẩn Ngôn tay phải cầm súng bắn ra ngoài cửa sổ, tay trái chớp lấy thời cơ, cầm bút lông lên, chỉ mấy nét tung hoành, đã viết lên tờ giấy trải sẵn nơi bàn một chữ “tỉnh” khí thế bức người, rồi hất tờ giấy tuyên lên đỉnh đầu trước khi ngói vụn rơi đến, quát lớn: “Thôn Hồn kỳ!”

Cùng tiếng niệm chú của Khưu Cẩn Ngôn, trên người y tỏa ra một vầng sáng vàng.

Lục Kiều Kiều từng thấy quầng sáng này trên núi Kê Đề, biết rõ bí thuật thiên tinh này có uy lực kinh người, có thể nhiếp hồn phách người ta, cô lập tức quay lưng lại nhắm nghiền mắt, đồng thời chìa tay bịt mắt An Long Nhi lại, An Long Nhi nắm lấy tay Lục Kiều Kiều thuận thế ôm cô vào lòng, dùng thân thể mình che cho Lục Kiều Kiều.

Họ không thấy được cảnh tờ giấy tuyên kia bọc lấy toàn bộ ngói vụn trên đầu Khưu Cẩn Ngôn, cũng bọc luôn cả một bóng đen lao tới, ném ra ngoài cửa phòng, bốn tên nha dịch bị quầng sáng vàng công kích chớp nhoáng, đều ngã lăn ra đất, chỉ mình Kim Lập Đức đang mơ mơ màng màng vẫn mở to mắt, có điều dù y trúng Thôn Hồn kỳ cũng chẳng có gì quan trọng, bởi y vốn đã say đến không thể cục cựa rồi.

Đòn này của Khưu Cẩn Ngôn vẫn không ngăn nổi đám thích khách tấn công, từ lỗ hổng trên đỉnh đầu y, một bóng người thừa lúc khói bụi mù mịt lại nhào đến, song thân hình còn đang ở trên không, Khưu Cẩn Ngôn đã giơ súng bắn, đồng thời vung tay trái gạt phăng tên thích khách. Sau khi kẻ này bị Khưu Cẩn Ngôn gạt ra, vẫn còn một thanh đoản đao đâm thẳng tới, nhằm vào mắt Khưu Cẩn Ngôn, thì ra hai tên thích khách khi trước chỉ là yểm hộ, kẻ thực sự ra tay còn ẩn mình phía sau hai vật hy sinh, đợi khi đến gần Khưu Cẩn Ngôn nhất mới vung ra một đao không thể né tránh này.

Mắt thấy lưỡi đao loang loáng đâm tới cực nhanh, chỉ còn cách mắt nửa tấc, nhưng chân Khưu Cẩn Ngôn đã tàn phế, không thể di chuyển, chẳng kịp thu tay lại ngăn trở hay nổ súng nữa, song khi một đao chí mạng sắp cắm ngập vào đầu y, mũi đao lại thình lình bị một thanh đoản đao gạt ra chuẩn xác, hai thanh đao va vào nhau keng một tiếng chói tai, làm tia lửa bắn ra tung tóe, hoa cả mắt. Thì ra, vào khoảnh khắc cuối cùng, Lục Kiều Kiều đã quyết định ra tay giúp đỡ, coi như trả món nợ ân tình cho Khưu Cẩn Ngôn. Song kẻ hành thích quan viên nhà Thanh có thể là nghĩa sĩ phản Thanh, cũng có thể là kẻ thù chính trị trong triều, trước tình thế chưa biết là địch hay bạn, không thể tùy tiện ra tay đả thương người, nếu giết cả hai người này của phủ Quốc sư, có lẽ họ sẽ không thể biết được phủ Quốc sư muốn gì.

Thấy Lục Kiều Kiều ra tay, An Long Nhi cũng lao đến như bóng với hình, nhìn tốc độ và thân thủ của Lục Kiều Kiều, cậu biết cô hoàn toàn có thể chém liền mấy đao giết chết tên thích khách, song lại chỉ xuất một đao, chợt hiểu ngay nguyên do cô không giết. Tên thích khách ra tay thất bại, lập tức giẫm hai chân lên mặt bàn bát tiên, vung ra hai thanh đoản đao, chém xả xuống Lục Kiều Kiều, có điều Lục Kiều Kiều là hạng người nào, sao có thể để một kẻ học võ tầm thường chạm đến nửa cọng tóc, cô vung chân gạt chiếc ghế bát tiên Khưu Cẩn Ngôn đang ngồi, cả ghế lẫn người Khưu Cẩn Ngôn trượt đến bên tường, cùng lúc đó, Lục Kiều Kiều cũng hai tay hai đao ác đấu với tên thích khách. Bốn thanh đoản đao múa lên hạ xuống, phát ra tiếng kim loại cọ vào nhau leng keng không ngớt, nếu người bên cạnh không kịp bưng tai, hẳn sẽ nổi hết da gà.

Lỗ hổng trên mái nhà từ khi lủng ra đến giờ không một khắc bình yên, mấy thích khách áo đen tay cầm song đao liên tục lao về phía Kim Lập Đức, nhưng An Long Nhi, chỉ với hai bàn tay không, đã đánh bật tất cả ra ngoài cửa sổ, bên dưới cửa sổ là đám nha dịch đã bố trí trước, thấy kẻ nào rơi ra liền trói ngay lại, cứ thế tuần tự bắt lấy.

Khưu Cẩn Ngôn trượt đến bên tường lập tức giơ súng lên nhắm chuẩn vào tên áo đen trong phòng, nhưng Lục Kiều Kiều đang múa đao ác đấu với kẻ đó, chẳng khác nào đôi bướm dập dờn bay, khiến y không sao nổ súng được. Thấy kẻ kia mỗi lần chém ra một đao lại đọc một chữ, chẳng mấy chốc đã nối thành một câu: “Khê sơn một phái thiên cổ…”

An Long Nhi nghe được mấy chữ, đột ngột quay lại hỗ trợ Lục Kiều Kiều, xuất chưởng bọc lấy khuỷu tay tên áo đen ấn vào be sườn, Lục Kiều Kiều thuận miệng trả lời: “Ba dòng nước hợp…”

“Chảy vạn năm!” An Long Nhi nói nốt nửa câu sau, miệng nói, chân tung lên đá hất, thoạt tiên làm gãy đôi chiếc bàn bát tiên, rồi không hề khựng lại một khắc, nhằm thẳng vào hai chân tên áo đen. Tên kia trúng một cú đá của An Long Nhi, bắn vọt ra như cưỡi mây đạp gió, bay qua lỗ hổng trên mái.

Trong phòng lập tức yên tĩnh hẳn, chỉ có tiếng chân rầm rập đuổi bắt trên mái và dưới lầu, ra mãi tít đường cái, lực lượng toàn thành đã được huy động truy nã.

Các nha dịch mời Kim Lập Đức và Khưu Cẩn Ngôn sang một căn phòng ở lầu một, Khưu Cẩn Ngôn thấy Lục Kiều Kiều và An Long Nhi vẫn đi theo mình, bèn hỏi Lục Kiều Kiều: “Vừa rồi đa tạ cô ra tay giúp đỡ, hai vị còn chuyện gì phải làm không?” Câu này rõ ràng có ý tiễn khách. Thực ra, Lục Kiều Kiều và An Long Nhi là khách không mời mà đến, song Khưu Cẩn Ngôn vẫn lịch sự đối đãi, xem như đã dành cho họ sự tôn trọng lớn nhất với người trong ngành rồi. Không đồng đạo chẳng thể bàn mưu, nói không chừng chỉ quay người đã thành kẻ địch, trước đây đã từng giao đấu, đôi bên đều làm đối phương tổn hại nặng nề, hiện giờ tiếp xúc quá nhiều cũng chẳng hay ho gì.

Lục Kiều Kiều còn chưa kịp đáp, Kim Lập Đức đã mở to cặp mắt lờ đờ, lên tiếng: “Khưu đại nhân, ông thường nói thân này đều do số mệnh an bài, chẳng thể trông vào tính toán của con người, chuyện năm xưa bỏ qua đi, tôi biết họ không phải hạng người chỉ sợ thiên hạ không loạn, nếu chẳng phải thời thế xui khiến, có khi chúng ta còn có thể kết bạn, tốt xấu gì cũng là người trong nghề, có tiếng nói chung mà. Tôi muốn dẫn họ ra ngoài hóng gió, Khưu đại nhân có đi cùng không?”

Lục Kiều Kiều biết lời này có hàm ý, bèn mỉm cười bảo Kim Lập Đức: “Tôi vẫn nói Kim đại nhân giỏi đoán ý người ta, là viên quan tốt nhất trong phủ Quốc sư mà, ông định dẫn chúng tôi đi đâu chơi vậy?”

“Đi gần thôi, đến Tiểu Đông môn, ngay sau Văn Miếu, tôi mời các vị đi ăn mì xào tôm nõn hành, cảm ơn các vị từ trời giáng xuống cứu giúp.”

Lục Kiều Kiều nghe nói liền cắn răng đáp: “Ồ, là mì Dương Xuân ư?”

Kim Lập Đức vịn ghế đứng dậy: “Ôi cô Ba ơi, cái đó cô còn không biết ư, cô đến Thượng Hải bao lâu rồi?”

“Mới nửa ngày thôi.”

“Quái quỷ thật, mới đến nửa ngày mà tôi gặp phải cô những hai lần cơ à… Xào mì với mỡ hành, rồi bỏ thêm tôm nõn, thơm lắm, nửa đêm canh ba thế này ăn rất ngon, đi thôi…”

Dứt lời Kim Lập Đức liền dìu Khưu Cẩn Ngôn ra cửa khách điếm, dắt một cỗ xe lừa nhỏ từ trong nha môn ra, mọi người lọc cọc đi trên con phố vắng, đến Tiểu Đông môn.

Lục Kiều Kiều và An Long Nhi khăng khăng đòi ăn mì trộn trước, sau khi xì xụp ăn uống trong quán nhỏ ngay dưới tường thành, Kim Lập Đức rút lệnh bài trình quân giữ thành rồi dẫn mọi người lên đầu thành.

Nhìn về phía sông Hoàng Phố tối thui tĩnh lặng, Kim Lập Đức nói: “Thái bình thịnh trị tốt ghê, cô xem, ai ai cũng được ngủ ngon. Song trời đất cũng có vận trời, những việc buộc phải xảy ra, chúng ta có thể khoanh tay đứng nhìn, cũng có thể dốc hết tâm sức…”

An Long Nhi hỏi: “Kim đại nhân muốn nói chuyện gì vậy?”

Khưu Cẩn Ngôn chống gậy ngồi trên tường thành, nói với An Long Nhi: “Các vị đều là cao thủ huyền học, chẳng trách được Kim đại nhân tin tưởng như vậy, lão phu cũng không ngại nói thẳng, lần này chúng tôi đến đây, là vì phong thủy Thượng Hải.”

Lục Kiều Kiều suýt thì quên mất Khưu Cẩn Ngôn cũng là phong thủy sư, năm xưa đôi bên giao chiến chính là vì phong thủy, hiện giờ y đến đây vì việc phong thủy cũng hoàn toàn hợp lý hợp tình. Một người thọt chân như y, triều đình không thể bổ làm quan, hay dùng làm sát thủ, nhưng làm phong thủy sư chỉ cần đầu óc, tay chân tàn phế cũng chẳng ảnh hưởng gì.

Cô khinh khỉnh hỏi Khưu Cẩn Ngôn: “Lần này ông nhận được việc phá phong thủy Thượng Hải chứ gì, có thể lập công lớn đấy.”

Nghe Lục Kiều Kiều nói vậy, Khưu Cẩn Ngôn liền sa sầm nét mặt, quay ngoắt đi chẳng buồn đáp.

Kim Lập Đức vội xoa dịu: “Cô Ba đừng nói thế, phong thủy vốn là thần thuật để cứu nghèo giúp đời, phong thủy gia chúng ta, kẻ nào nhập môn chẳng phải học thuộc lòng Phong thủy thập bất táng[69], ai lại dùng phong thủy đi làm cái việc thất đức, phá hoại mộ tổ nhà người ta chứ. Trước đây Đại ca cô còn chưa nắm việc công vụ ở Quảng Đông, bề trên ban lệnh xuống như thế, chúng tôi nào dám không theo, sau khi Đại ca cô tiếp quản, chúng tôi cũng không dùng những cách âm hiểm đả phá phong thủy nữa, chỉ muốn cắt đứt long khí quá mạnh để mọi người đều bình yên thôi.”

Lục Kiều Kiều bỗng dưng lại bị Kim Lập Đức cảm động, cô sực ngộ ra, thì ra bấy nhiêu năm nay, mình chỉ chăm chắm nghiên cứu phong thủy, theo đuổi cảnh giới tối cao, thậm chí còn dùng phong thủy kiếm tiền, mà quên khuấy Phong thủy thập bất táng, những quy tắc căn bản quan trọng nhất của phong thủy sư.

“Thập bất táng… Long Nhi, đã học Phong thủy thập bất táng chưa?” Lục Kiều Kiều trầm ngâm hỏi An Long Nhi.

Lục Kiều Kiều xưa nay chưa hề dạy mười quy tắc này cho An Long Nhi, nhưng trong ba năm học đạo ở phủ Thiên Sư, cậu đã được Trương Thiên sư nghiêm khắc truyền thụ. Ngỡ rằng Lục Kiều Kiều đang kiểm tra đột xuất, cậu liền làu làu đọc ra:

“Không táng kẻ bất hiếu,
Không táng kẻ ác độc truyền đời,
Không táng kẻ xấu xa,
Không táng kẻ lòng dạ gian tà,
Không táng kẻ làm xằng làm bậy,
Không táng kẻ chôn ké mộ người xưa,
Không táng kẻ chôn cùng tiên tổ,
Không táng kẻ không rõ lai lịch,
Không táng kẻ không thành tâm tin tưởng,
Không táng kẻ tiếp đãi vô lễ.
Mười điều này đặt ra nhằm bảo đảm phong thủy sư không gieo mầm họa, nối giáo cho giặc, mỗi khi cháu xem tướng đất, vẫn luôn tuân thủ quy tắc, trước coi tướng người, sau mới chọn đất.”

Lục Kiều Kiều nghĩ tới việc mình giúp Hồng Tú Toàn đặt long huyệt thiên tử, bấy giờ chẳng biết lai lịch Hồng Tú Toàn, cũng chẳng hề nghiên cứu xem y là kẻ thế nào, chỉ thấy miệng rồng mở, liền ra tay hạ táng, đã đi ngược lại quy tắc Phong thủy thập bất táng của người xưa. Một cơ hội đặt ra trước mặt, cũng chưa chắc là ý trời, mà dẫu là ý trời chăng nữa, cũng không nhất định phải làm theo; dù có làm theo, cũng phải tuân thủ Phong thủy thập bất táng trước.

Cô rầu rĩ nhắm mắt lại, nhịp nhàng dùng tay vỗ trán mình. Trong lòng đang ra sức trừng phạt bản thân, nhưng lúc này cô đành vờ làm mấy động tác vô ý để che giấu.

Thấy hành động kỳ quặc của Lục Kiều Kiều, An Long Nhi quan tâm hỏi: “Cô Kiều, cháu nói sai ư?”

“Không sai, Long Nhi thuộc nằm lòng rồi, còn làm tốt hơn chúng ta nữa.” Kim Lập Đức vừa lót dạ bát mì trộn, lại lên đầu thành hứng gió, đã tỉnh rượu dần, nói chuyện cũng rõ ràng rành mạch.

Khưu Cẩn Ngôn góp lời: “Giặc tóc dài đánh đến Nam Kinh, trông tình thế có lẽ định tấn công vào Thượng Hải, hiện giờ tuy có đại doanh Giang Nam chặn ở Trấn Giang, nhưng nếu chúng dốc hết toàn lực, chưa chắc Thượng Hải đã giữ được. Mỗi lần hạ được một tòa thành, giặc tóc dài lại giết người vô số, nên chúng tôi đến đây lần này nhằm sắp đặt thế cục phong thủy bảo hộ thành trì, trước mắt là để giữ bến cảng lớn thông thương với bên ngoài này, thứ nữa là từng bước đặt phong thủy cho các thành trấn xung quanh Nam Kinh, để quân giữ thành được long khí hỗ trợ, đánh thắng trận này.”

“Tôi thấy Thượng Hải không giữ nổi đâu, phá thành chỉ là việc sớm muộn mà thôi, các ông đến muộn quá, không kịp làm gì nữa rồi.” An Long Nhi nói như chém đinh chặt sắt, hoàn toàn không chừa đường lùi.

Kim Lập Đức cười đáp: “Nếu chuyện gì cũng làm theo vận trời, thì còn cần phong thủy làm gì nữa? Đúng sai bày ra trước mắt, biết rõ không thể, nhưng vẫn phải làm thôi.”

Khưu Cẩn Ngôn lại nghiêm trang hỏi An Long Nhi: “Sao cậu lại nhận ra Thượng Hải không giữ nổi?”

An Long Nhi nhìn Lục Kiều Kiều, trước đây, mỗi lần cậu nhìn cô như vậy, đều là hỏi ý, song hôm nay, trong mắt cậu, Lục Kiều Kiều chỉ thấy tự tin và đoan chắc. Cô biết cậu cũng không muốn Thượng Hải thất thủ, nên muốn nêu ra ý kiến của mình để Kim Lập Đức và Khưu Cẩn Ngôn tham khảo, đây không phải thẳng ruột ngựa, mà là tấm lòng lương thiện, lo nghĩ cho thiên hạ.

Lục Kiều Kiều cũng không gật đầu đồng ý như khi xưa nữa, chỉ cười tươi tắn với An Long Nhi, cậu bèn trỏ ngã ba sông nơi sông Tô Châu và Hoàng Phố đổ vào nhau, trình bày với hai người kia: “Vấn đề chính là ở đây. Thượng Hải là đất kết huyệt của Nam Cán Long Trung Hoa, mặt quay ra biển, khí trùm trời đất, long khí dồi dào tài khí sung túc, chẳng cần phải nói nữa. Long mạch thành Thượng Hải xuôi theo dãy Ninh Trấn, quay lưng về Tây hướng mặt về Đông, sông Hoàng Phố chảy từ phía Nam lại, đổ lên phía Bắc, trái thấp phải cao, Thanh Long xuống nước,[70] sông Hoàng Phố bao quanh thành thoạt nhìn như một dải đai ngọc quấn quanh eo lưng, là tượng đại cát, song vừa chảy đến vị trí nắm quyền ở hướng chính Bắc thì đột ngột đổi dòng chảy ngược lại. Nước chảy ngược dòng là vô tình, nước vô tình được coi là hung, còn hợp với sông Tô Châu tạo thành ngã ba sông, nên về mặt địa lý, ngã ba sông này chính là điểm kích phát tất cả vấn đề. Thành Thượng Hải lại ở bên bờ biển, dễ phạm vào đại kỵ thoắt lên thoắt xuống trong phong thủy, bởi thế khi gặp vận thì lên tận mây xanh, lúc thất cơ lỡ vận thì xuống như thác đổ, phải xem vận khí vần chuyển là cát hay hung.”

Kim Lập Đức nhìn ra ngã ba sông, hỏi: “Làm sao để xem được vận khí vần chuyển?”

An Long Nhi đáp: “Dùng phép Huyền Không mà tính thôi, hiện giờ đại vận là Thượng Nguyên Cự Môn vận, tinh vận là Hạ Nguyên Hữu Bật vận, cung Khảm ở phía Bắc hợp thành Vũ Khúc Phá Quân giao kiếm sát, mà sát khí của quẻ này trùng với phương vị ngã ba sông, hình hung gặp quẻ hung, vận này tất ứng với giao kiếm sát, xuất hiện việc binh đao chiến loạn.”

Kim Lập Đức gật đầu: “Tuy phép tính khác nhau, nhưng kết quả chúng tôi tính ra cũng tương tự, ngã ba sông này nằm ở hướng chính Bắc của nha môn, rất xấu, năm nay Thái Tuế Quý Sửu, lại ứng ngay vào vị trí ngã ba sông, nước chảy ngược gặp phải Thái Tuế, Thượng Hải không phá thành sao được…”

Lục Kiều Kiều cũng nói: “Đâu chỉ có vậy, mỗi khi gặp năm Sửu, đều là một đại quan. Song Kim đại nhân nhìn xa trông rộng, lòng canh cánh chuyện lớn mà vẫn có thể đi uống rượu hoa, thả sức chơi bời như vậy, thực là hào tình cuồn cuộn, rất có phong thái thời Ngụy Tấn.”

Nghe ra giọng điệu giễu cợt của Lục Kiều Kiều, Kim Lập Đức cũng không để bụng: “Tôi rất thích đến kỹ viện chơi, nhưng hôm nay tôi không phải đi chơi.”

“Ồ? Lẽ nào Kim đại nhân đi uống rượu hoa vì việc lớn trong thiên hạ ư?” An Long Nhi đùa Kim Lập Đức, khiến tất cả đều bật cười khe khẽ.

“Tối nay Khưu đại nhân bói ra được có người đến hành thích, vậy mà Kim đại nhân vẫn liều đi tìm vui, hẳn là có nỗi khổ riêng. Tôi đoán rằng Kim đại nhân đi quyên tiền để sửa phong thủy.”

Sự nhanh nhẹn, giỏi đoán ý người của Lục Kiều Kiều khiến Kim Lập Đức chỉ tiếc nỗi gặp nhau quá muộn, cảm kích nói: “Cô Ba quả là thông minh tuyệt đỉnh, nếu là Đại ca cô, tôi cũng chẳng nỡ giết cô. Chúng tôi đã xem phong thủy Thượng Hải, cũng muốn dùng cách trấn sát, nhưng đặt một phong thủy lớn như vậy cần có tiền, mà triều đình nhất định không chịu chi rồi, ngân khố trong huyện thành lại dốc cả ra để đánh giặc tóc dài, muốn xây xướng tu sửa thì đào đâu ra tiền? Bởi thế mười mấy ngày nay tôi phải chạy vạy khắp nơi tìm các nhà buôn và hương thân trình bày rõ ngọn nguồn, xin mọi người quyên chút tiền để bảo vệ thành trì. Tôi biết Thượng Hải xưa nay vẫn có tục này, thời Minh, triều đình không có tiền đánh giặc Oa, dân chúng Thượng Hải bèn tự quyên đủ số tiền xây tường thành, cuối cùng giặc Oa cũng không đánh được đến Thượng Hải.”

Kim Lập Đức vỗ vỗ lên ụ tránh tên nói tiếp: “Bức tường thành dưới chân chúng ta đây chính là công lao quyên góp của dân Thượng Hải năm xưa đó.”

Lục Kiều Kiều và An Long Nhi nghe nói đều hiểu, quả nhiên Kim Lập Đức đã nhọc lòng nhọc sức. Khưu Cẩn Ngôn lại nói: “Tôi đã khuyên lão Đức đừng mạo hiểm, nhưng ông ta nói thời gian chẳng đợi ai, ngày phá thành càng lúc càng gần, phải dốc sức giải quyết, quyên góp tiền để khởi công, nên vẫn hẹn với các thân sĩ cùng bàn bạc, còn như uống rượu hoa là thú chơi của đám thân sĩ, lão Đức cũng phải thù tiếp họ, chứ nào phải muốn tìm vui.”

An Long Nhi nghe vậy liền chắp tay tạ lỗi với Kim Lập Đức: “Long Nhi vô ý xúc phạm Kim đại nhân, xin ngài chớ trách. Dám hỏi Kim đại nhân định cứu vãn sát cục này thế nào?”

Kim Lập Đức lại trỏ ra ngã ba sông nói: “Các vị có thấy vị trí nước đổi dòng chảy ngược kia không? Vì dòng chảy ba góc đều đổi dòng, hình thành nên một doi đất nhòn nhọn, gọi là Lục gia chủy, doi đất nhọn được coi là hỏa địa, dòng chảy nhọn gọi là hỏa thành thủy, là tượng hung trong các dòng chảy, muốn trấn sát cục này tốt nhất là xây một tòa tháp cao tại Lục gia chủy, như vậy còn có tác dụng khóa chặt cửa sông đổ ra, giữ lấy tài khí, có thể nói là nhất cử lưỡng tiện, tôi cũng thuyết phục các thương gia bằng đạo lý này, nghe nói xây tòa tháp có thể tụ tài, rất nhiều người chịu bỏ tiền quyên góp.”

Lục Kiều Kiều nhìn vị trí Lục gia chủy, xoay người lại bảo Kim Lập Đức: “Phương pháp này cũng có hiệu quả nhanh nhất, có điều giờ đã tháng Năm, e rằng Kim đại nhân không kịp hoàn thành, ông cứ dốc hết sức mình mà làm thôi, miễn không hổ thẹn với lòng là được, đừng luận thành bại làm gì. Có điều tôi thấy dù ngọn tháp ấy có dựng lên được, cũng không phải cách lâu dài, chỉ cần hỏa thành thủy nằm ở bất cứ phương hướng nào của Thượng Hải, nhất định sẽ có ngày xảy ra chuyện. Nếu Thượng Hải có thể liên tục mở rộng ra bốn phía, bao bọc hỏa thành thủy vào trong, như vậy hỏa thành thủy sẽ thành cửu khúc khứ thủy, một là Thượng Hải sẽ tránh được họa đao binh, hai là có thể trở thành bến cảng lớn nhất thiên hạ, những bãi lầy và đồng hoang xung quanh cũng đội giá lên cả trăm lần, chúng ta nhanh tay mua trước, nhất định sẽ giàu nứt đố đổ vách…”

Kim Lập Đức phì cười: “Thành Thượng Hải này chỉ cần thiên hạ thái bình thì lo gì chẳng phát tài to, nhưng việc lớn chưa giải quyết xong, còn lòng dạ nào nghĩ đến phát tài nữa.”

Đến đây, Lục Kiều Kiều và An Long Nhi đã biết được mục đích Kim Lập Đức đến Thượng Hải, nhưng không hiểu sao y lại dốc hết gan ruột với mình như vậy. Kim Lập Đức và Khưu Cẩn Ngôn là kẻ địch từ xưa của họ, nắm rõ thân phận và các mối quan hệ của họ, thậm chí còn biết cả Lục Kiều Kiều từng tham gia tạo phản trong quân Thái Bình, xét quan hệ thì bọn họ phải không đội trời chung mới đúng, Kim Lập Đức hành động thế này rất không hợp lẽ thường.

Lục Kiều Kiều đang định thăm dò thêm thì An Long Nhi đã lên tiếng: “Kim đại nhân, chúng ta vốn không thân thiết, vậy mà ông hết lần này đến lần khác nương tay với Long Nhi, tuy không hiểu nguyên do tại sao, nhưng Long Nhi vẫn vô cùng cảm kích. Lần này ông lại mở lòng cùng chúng tôi đàm luận phong thủy Thượng Hải, phong độ quân tử hào sảng thật khiến người ta bội phục. Nghiêm khắc mà nói, Kim đại nhân đã là tông sư một đời, sao vẫn cam lòng ở dưới người khác, không làm những chuyện lớn hơn cho thiên hạ?”

“Ha ha, cậu nói việc lớn hơn là việc gì chứ? Muốn thuyết phục tôi nhập bọn với giặc tóc dài cùng tạo phản ư?” Chẳng đợi An Long Nhi đáp, Kim Lập Đức lại nói tiếp: “Tôi là phong thủy sư, chỉ muốn làm tốt công việc của phong thủy sư mà thôi, bể học mênh mông, chẳng ai dám nói mình là tông sư một đời. Con người ta, muốn làm việc gì đi nữa, cũng không được quên mục đích ban đầu, có người tạo phản vì miếng ăn, cũng có người vì muốn làm hoàng đế, mở ra một thế giới mới cho thiên hạ, nhưng thường thì đánh trận mãi thành mê, lại thành ra tạo phản vì tạo phản, mà quên đi mục đích ban đầu của mình.”

Kim Lập Đức thong thả vịn tường thành ngồi xuống, lần lượt nhìn Lục Kiều Kiều và An Long Nhi: “Tôi và Khưu đại nhân đều là người luyện võ, để bảo vệ mình thì dư sức, nhưng chúng tôi không phải quan võ, sao phải ra tay giết người? Năm xưa cậu mới mười ba tuổi, tôi cảm thấy một đứa bé không thể nào có ý xấu được, huống hồ các người xưa nay chưa từng chủ động muốn hại tôi, tôi chỉ là một quan văn trong Khâm Thiên giám, nhiệm vụ của tôi không phải giết người, nên không làm được những chuyện này. Hơn nữa, đối với Quốc sư, cũng chính là Đại ca cô, tôi có tán đồng, cũng có phản đối.”

Lục Kiều Kiều và An Long Nhi đều hết sức kinh ngạc, không ngờ Kim Lập Đức dám nói ra những lời này trước mặt mình. Kim Lập Đức cười nói: “Lạ lắm phải không, tôi không đồng tình với Quốc sư, nhưng vẫn có thể làm bạn cùng ông ấy. Con người ta ở cạnh nhau không nhất thiết việc gì cũng phải đồng lòng nhất trí, chỉ cần mọi người tin tưởng lẫn nhau, chung một mục tiêu, thì những ý kiến bất đồng trong cả quá trình lại có tác dụng gợi ý, có lúc cũng là sự cân bằng tuyệt vời.”

Đoạn, Kim Lập Đức viết một chữ “bình” lên không trung: “Loạn lạc xưa nay đều khởi nguồn từ bất bình, triều đình quá hà khắc với dân chúng, đương nhiên dân sẽ làm phản, nhưng tạo phản quen thói trở thành phỉ, không những đối kháng với triều đình mà còn khiến dân chúng đói khổ, thì cũng đừng hòng tạo phản thành công. Phàm việc gì cũng không nên làm quá, nhưng Đại ca cô có lúc làm việc thái quá, nên xưa nay tôi không hề ủng hộ ông ấy ra tay quá nặng. Có điều, những suy nghĩ cho đại cuộc của Đại ca cô, tôi và Khưu đại nhân đều dốc sức ủng hộ, những chuyện đó tôi không thể tiết lộ với cô được, chẳng rõ Đại ca cô có nói với cô không…”

Kim Lập Đức ngừng lại nhìn hai người, An Long Nhi biết y đang nói tới việc giao thiệp với Tây phương, thay đổi triều chính mà An Thanh Nguyên từng nói qua loa dăm câu ba điều, cậu không hiểu chính trị, nhưng cậu biết nếu những lời An Thanh Nguyên nói là thật, thì y cũng không phải kẻ một lòng một dạ bán mạng cho triều Thanh.

Lục Kiều Kiều cười đáp: “Đại ca xưa nay không luận bàn mấy chuyện quốc gia đại sự với tôi, nói mấy chuyện đó với đàn bà con gái như tôi khác nào đàn gảy tai trâu, có điều Đại ca và Long Nhi rất hợp chuyện, vậy mà lại vừa đàm đạo vừa truy sát Long Nhi, tôi cũng chẳng hiểu anh ấy định làm gì nữa.”

Khưu Cẩn Ngôn trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng cũng lên tiếng:

“Quốc sư là người rất cố chấp, có những chuyện cũng không nói với bọn lão phu, nhưng các người không gây uy hiếp cho ông ấy, không cản đường ông ấy thì ông ấy cũng không tùy tiện ra tay đâu. Muốn thay đổi xã hội, không phải cứ lật đổ một triều đại mà thành công được, mấy ngàn năm nay, Trung Quốc thay triều đổi đại bao nhiêu rồi, mà có bao giờ thực sự thay đổi được đâu. Muốn thiên hạ thái bình, không thể giết sạch người Mãn là xong, mà các dân tộc sống trên mảnh đất này đều phải hiểu chữ ‘bình’ vừa nãy lão Đức viết mới được. Hiện giờ người Mãn nắm quyền, người Hán phải cúi đầu, người Tây vào quan ải, người Mãn lại phải cúi đầu, rốt cuộc lúc nào mới kết thúc đây? Người Hán mạnh lên ắt sẽ bình định người Mãn, Trung Quốc cường thịnh ắt bình định thế giới, tranh đấu với người chi bằng tự cường, đạo tự cường lại phải noi theo cường quốc, cái mà Trung Quốc cần thay đổi, không phải là triều đại…”

Khưu Cẩn Ngôn nói đến đây thì ngưng lại, dường như nếu nói tiếp, y cũng tự thấy mình đã thành loạn đảng.

Lục Kiều Kiều chắp tay nói với Kim Lập Đức và Khưu Cẩn Ngôn: “Đa tạ hai vị khoản đãi, có điều chúng tôi chỉ là thường dân, không nghe hiểu được quốc gia đại sự, đành cậy vào các vị vất vả vậy, chúng tôi về nhà đi ngủ đây, cáo từ.”

An Long Nhi cũng biết mục đích tối nay đã đạt được rồi, có nói nữa cũng chẳng tác dụng gì, bèn cùng Lục Kiều Kiều ra khỏi thành về thuyền Green.

Jack lo lắng không ngủ được, đành nằm dài trên boong thuyền đọc sách, thấy Lục Kiều Kiều và An Long Nhi trở về, có vẻ còn hân hoan khác thường, liền sán tới hỏi han cặn kẽ. Buổi tối xảy ra nhiều chuyện như vậy nên mọi người đều không ngủ được, sau khi tắm qua loa xong, ba người bèn pha một ấm trà, đặt ghế dựa trên boong thuyền, toan uống trà nói chuyện đợi sáng.

Vừa ngồi xuống, họ chợt nghe thấy ngoài mạn thuyền vang lên tiếng va đập, các thủy thủ da đen lập tức lũ lượt xách đao chạy về phía phát ra tiếng, Lục Kiều Kiều cũng cảnh giác đặt tay lên khẩu súng giắt ở eo, quay lại hỏi An Long Nhi: “Chuyện gì thế nhỉ?”

An Long Nhi đương nhiên không biết xảy ra chuyện gì, ý Lục Kiều Kiều bảo cậu mau bấm quẻ tính xem. An Long Nhi đã nhiều lần bị khảo nghiệm Mai Hoa dịch số, sớm đã đạt tới cảnh giới động lòng là bói như Lục Kiều Kiều, chính nhờ đặc điểm tiện lợi nhanh nhẹn này, nên Mai Hoa dịch số cũng được gọi là Tâm dịch. Cậu lấy ba người đang ngồi làm quẻ số, dùng vị trí đầu thuyền phía Nam đang ngồi để hạ quẻ, buột miệng kêu lên: “Quẻ Lôi Hỏa Phong, có kẻ phóng hỏa!”

Lục Kiều Kiều từ lâu đã muốn xem trình độ gieo quẻ của An Long Nhi tới đâu, nên cứ đợi mãi cơ hội để An Long Nhi phát huy. Jack sớm đã quen với những chuyện thần kỳ như vậy của hai người, tự biết chỉ cần tin tưởng, ắt không việc gì. Anh bảo Lục Kiều Kiều: “Không được nổ súng,” đoạn theo An Long Nhi chạy đến mạn thuyền.

Jack dặn không được nổ súng, chẳng phải nhân từ với kẻ địch, mà chỉ lo tiếng súng sẽ đánh động quan phủ, quan phủ mà đến ắt đòi soát thuyền, lục ra một lượng lớn súng ống đạn dược, cũng có thể tra ra những bí mật khác trên thuyền Green, những điều này, kẻ làm bà chủ như Lục Kiều Kiều đương nhiên hiểu rõ, bèn vâng một tiếng rồi vội vã chạy đến buồng lái, dùng loa báo với thuyền trưởng John Lớn.

An Long Nhi và Jack chạy tới mạn thuyền nhìn xuống, trông thấy mấy chục con thuyền ba lá chen chúc trên sông Hoàng Phố, trong đó có ba chiếc chở đầy cỏ khô đang áp sát mạn thuyền Green, như dính chặt vào mạn thuyền. Ba con thuyền ba lá nồng nặc mùi dầu hỏa, bên trên có mấy bóng người đang nhảy sang những con thuyền khác trên mặt sông. Không còn nghi ngờ gì nữa, ba con thuyền ba lá này chính là mồi lửa, đối phương đổ dầu hỏa lên mạn và ván thuyền Green, lại cho thuyền nhỏ áp sát phóng hỏa, hiện giờ còn không ra tay cứu vãn, thuyền Green ắt sẽ bị phá hủy trong đám lửa.

An Long Nhi tung người nhảy lên con thuyền ba lá dùng làm mồi lửa, tức thì cả người chìm lút trong đống cỏ khô tẩm dầu, toàn thân ướt đẫm dầu hỏa, đúng lúc này, mấy con thuyền nhỏ trên sông quăng đến ba ngọn đèn dầu.

Sợi dây đỏ buộc đồng tiền từ cổ tay cậu lập tức bay ra, đánh rơi ngọn đèn dầu đang bay về phía mình xuống sông, nhưng trong khoảnh khắc ấy, hai ngọn kia đã kịp châm cho hai con thuyền bên cạnh cháy bùng lên. Lửa dầu hỏa rất nhanh, muốn cứu cũng chẳng kịp, bên ngoài mạn thuyền Green cháy bùng lên, ngọn lửa từ con thuyền ba lá đang nhanh chóng lan sang mạn thuyền.

Các thủy thủ trên thuyền còn chưa kịp tỉnh dậy dập lửa, xảy ra chuyện như vậy mà trên thuyền vẫn tĩnh lặng như thường, An Long Nhi ngẩng lên, thấy Jack thò đầu ra khỏi mạn thuyền, nôn nóng nhìn sang mình, bèn hét lên bảo anh: “Nơi này nguy hiểm lắm, đừng ai tụt xuống.” Dứt lời cậu vung cả hai tay lên hất hết cỏ khô trên thuyền ba lá xuống sông. Không bị đống cỏ khô che khuất, cậu trông thấy con thuyền ba lá bị đóng chặt vào mạn thuyền Green, bèn giơ tay đẩy thuyền Green ra, song con thuyền ba lá không hề lay động.

Mấy con thuyền nhỏ trên sông thấy An Long Nhi nhảy xuống cứu hỏa cũng chẳng vội bỏ đi, trông thấy cậu đánh rớt đèn dầu, hất đổ cỏ khô, chúng lại ném hai ngọn đèn nữa vào con thuyền dưới chân cậu. Chúng biết rõ mình đã đổ rất nhiều dầu lên thuyền, dù chẳng có cỏ khô, thì số dầu hỏa trên thuyền cũng đủ bốc cháy.

Nhưng tập kích bất ngờ còn chẳng chiếm được lợi thế, hiện giờ ném đèn dầu ngay trước mặt thì có tác dụng gì, hai ngọn đèn dầu bị An Long Nhi đánh rơi dễ như bỡn, song lại nhen lên lửa giận trong cậu. Lửa bùng lên hai phía trái phải của An Long Nhi, hai con thuyền cháy rừng rực chỉ cách cậu hơn ba trượng, chỉ thấy An Long Nhi xuống tấn, rút Vô Minh đao ra nắm chặt bằng cả hai tay, miệng lầm bầm niệm chú, ngọn đao nhẹ nhàng vạch ra một vòng tròn trên không, rồi sau một tiếng thét, hai bóng hình An Long Nhi đồng thời chia ra hai hướng, lao về hai bên trái phải, Vô Minh đao chém sang hai bên cùng tiếng sấm nổ ầm ầm.

Kiếm khí đi đến đâu, sấm rền vang đến đấy, hai con thuyền đang cháy bị chém nát vụn, chẳng khác bị đại pháo san bằng, gỗ vụn và cỏ vụn vẫn đang bắt lửa cháy bùng trên không, như thể thuyền Green vừa bắn một quả pháo hoa cực lớn từ dưới thuyền lên. Mặt sông Hoàng Phố đỏ rực ánh lửa, rồi thoắt chốc tắt lịm, chỉ còn những đốm lửa nhỏ trôi nổi trên mặt sông, từ từ lụi tắt.

Tất cả những chuyện đó chỉ xảy ra trong một cái chớp mắt, Lục Kiều Kiều đuổi đến nơi vừa kịp nhìn thấy pháo hoa nổ bùng rực rỡ, Jack trợn tròn mắt bảo cô: “Long Nhi biến thành hai người rồi.”

Lục Kiều Kiều ló đầu ra nhìn xuống, thấy lửa trên thân thuyền đã tắt hẳn, con thuyền ba lá bắt lửa cũng bặt tăm, chỉ thấy một An Long Nhi đang đạp trên những bó cỏ khô trôi nổi trên mặt sông lao về phía mấy con thuyền nhỏ. Cô bực bội bảo Jack: “Sao Long Nhi có thể biến thành hai người được, chẳng qua là động tác quá nhanh nên thấy có hai cái bóng thôi. Vừa rồi ồn ào náo động như bắn pháo, kinh động khắp bốn bên rồi, chúng ta còn không mau đi là quan binh tới đấy, anh kêu đám da đen nhổ neo chạy ra biển đi, mau mau!”

An Long Nhi đạp trên những bó cỏ khôi trôi nổi giữa sông như chuồn chuồn điểm nước, đuổi theo đội thuyền đang xuôi dòng bỏ chạy. Khi đạp lên bó cỏ khô xa nhất, không còn chỗ nào để đạp lấy đà chạy tiếp nữa, cậu bèn nhảy vọt về phía trước chừng ba trượng, vận khí đi trên mặt nước, làm bọt nước văng tung tóe như đóa sen trắng xòe nở dưới chân, thân thể cũng theo đó mà vọt lên không, rồi đáp xuống đuôi con thuyền chạy sau cùng như chim ưng vồ mồi.

Mấy tay chèo trên thuyền thấy vậy giật nảy mình, sợ đến nỗi vứt cả mái chèo, sáu con người nháo nhào lùi lại phía đầu thuyền, đồng thời rút đoản đao ở thắt lưng ra, trông rất giống vũ khí mấy tên thích khách dùng hành thích Khưu Cẩn Ngôn. Toàn bộ người trên thuyền đều dồn cả về đầu thuyền, tức thì đuôi thuyền bênh lên, khiến An Long Nhi đứng chênh vênh ở đó.

Để giữ thăng bằng, cậu liền ngồi thụp xuống, xuống tấn đè lấy đuôi thuyền, đồng thời hỏi đám người cuống quýt chạy trốn: “Có phải anh em Hồng gia không?”

Đối phương liền giơ ba ngón tay ra, thừa nhận là người của Hồng môn, đoạn hỏi lại: “Ngươi là ai?”

An Long Nhi chẽ ngón cái và ngón trỏ ra, đọc ám hiệu đối lại: “Nước lũ lan tràn khắp thế gian, là người mình. Mau tìm đại ca của các người lại đây nói chuyện.”

Người trên thuyền thấy An Long Nhi dùng kiếm khí phá thuyền, lại đạp nước mà đến, vốn đã nghi ngờ có phải mình đang nằm mộng, mơ thấy thiên binh thiên tướng hay không, hiện giờ cậu đã lên thuyền, lại không có ý báo thù mà còn chủ động bộc lộ thân phận, họ vội nói: “Đại ca ở con thuyền phía trước, có lá cờ nhỏ màu lam đó.”

An Long Nhi nghe xong lập tức tung người nhảy lên, từ thuyền nhảy sang một con thuyền khác, cú nhảy lần này nhẹ nhàng hơn hẳn lần trước, thì ra anh em trong Hồng môn xưa nay có nạn cùng chịu, thấy An Long Nhi đuổi đến, toàn bộ đều quay thuyền về vây quanh khu vực giữa sông, bao vây An Long Nhi tầng tầng lớp lớp. An Long Nhi thấy đội thuyền dừng lại cũng chẳng đuổi tiếp, chỉ đứng trên thuyền đợi đại ca của họ ra nói chuyện.

Một con thuyền nhỏ từ từ tiến lại phía An Long Nhi, kẻ vừa trò chuyện với An Long Nhi khi nãy bèn nói với sang thuyền này: “Lưu hương chủ, y nói mình là anh em Hồng gia.”

Một ông lão có mái tóc hoa râm, xem ra cũng phải hơn năm mươi tuổi ừm một tiếng, đoạn hỏi An Long Nhi: “Ngươi là người của Hồng gia ư?”

An Long Nhi chắp tay đáp: “An Long Nhi dưới trướng Hữu tướng ở sơn đường Cửu Long Quảng Tây, tham kiến Lưu hương chủ. Không biết ngài ở sơn đầu nào?”

“Quảng Đông, vậy nói tiếng Quảng đi, chúng ta là Tiểu Đao hội, lúc trước ngươi ở trạm dịch của quan viên làm gì thế?” Ông già này nói đặc giọng Quảng Đông, lời lẽ cũng đầy địch ý.

“Vừa rồi chúng tôi đi thăm bạn, sao các vị muốn hành thích hai người đó vậy?”

“Chúng ta đi đường thủy từ Phúc Kiến bám theo một con thuyền quan, từ Quảng Đông thuyền liền chở một lão thọt, hễ lên bờ phải có kiệu lớn tám người khiêng vào nha môn, thấy vậy, chúng ta cũng biết không phải hạng tầm thường.” Lưu hương chủ nói đến đây, An Long Nhi đã biết người họ nói là Khưu Cẩn Ngôn, bèn cắt lời Lưu hương chủ: “Các vị biết họ là ai chứ?”

Lưu hương chủ đáp: “Trước Trung thu, chúng ta sẽ khởi sự đánh vào Thượng Hải, hiện giờ bắt đầu thanh trừng những tên quan chó má trong nha môn, tới tên nào giết tên đó, ta chẳng cần biết là quan gì, phải giết cho chúng không dám đến Thượng Hải nữa, lúc khởi sự càng ít tên chó săn đội mũ lông công càng tốt. Sao ngươi lại cứu lão? Ngươi là người Hồng gia, không biết tội phản nghịch sẽ bị tru di cửu tộc ư?”

An Long Nhi chắp tay đáp: “Hải để”[71] thánh huấn, có anh em Hồng gia nào dám không ghi khắc trong lòng, có điều chẳng phân đen trắng, cứ khăng khăng lạm sát, dù các vị có chiếm được thành, cũng chẳng trụ lại được bao lâu. Người các vị muốn giết là phong thủy sư trong đại nội, lần này đến là vì biết Thượng Hải phá thành chỉ trong sớm tối, muốn bảo vệ phong thủy Thượng Hải, giảm bớt thương vong cho dân chúng, nếu các vị thấy mạng sống của người dân không đáng tiền, có thể giết chết ông ấy rồi tàn sát toàn thành sau. Có điều, xin Lưu hương chủ nhớ cho, giết hết người thì ông chỉ giành được một tòa thành trống không, nơi này chính là mộ phần của ông đấy. Cũng mong Lưu hương chủ nghĩ thử, nếu ông là dân thường, ông sẽ thích tên cẩu quan đến bảo vệ thành, cứu dân chúng, hay thích Tiểu Đao hội lén lút giết người phóng hỏa?”

“Được rồi, ngươi không đủ tư cách dạy bảo ta đâu.” Thái độ Lưu hương chủ rất cao ngạo, y nghiêm nghị bảo An Long Nhi: “Nên giết ai, không nên giết ai, trong lòng ta tự có tính toán, vốn dĩ ta tới trừng phạt ngươi, có điều ta đã chứng kiến võ công kinh người của ngươi rồi, là chúng ta tài nghệ không bằng ngươi, nếu ngươi không phải tới đối phó bọn ta, thì xin mời rời Thượng Hải cho mau, bằng không thuyền của các ngươi còn cháy nữa đấy.”

An Long Nhi quay lại nhìn, phát hiện thuyền Green đang từ từ đi ra giữa dòng, có vẻ định rời khỏi sông Hoàng Phố. Cậu bèn ngoảnh đầu bảo Lưu hương chủ: “Nói đến đây thôi, hy vọng ngày khác quay lại Thượng Hải, tôi vẫn có thể mua được một cửa hàng để buôn bán ở nơi này, chút tâm nguyện ấy, xin nhờ vào Lưu hương chủ vậy.”

Lưu hương chủ cũng nói với cậu: “Ta còn ở Thượng Hải ngày nào, sẽ để Thượng Hải buôn bán làm ăn ngày nấy, hơn nữa, còn phải phát đạt hơn thời Mãn Thanh cai trị. Phải rồi, tên quan chó má kia là phong thủy sư trong đại nội, ngươi cũng biết xem phong thủy phải không?”

“Huynh đệ chỉ biết sơ sơ đôi chút, chẳng hay Lưu hương chủ có gì chỉ bảo?”

Lưu hương chủ chắp tay chào: “Ta tên Lưu Lệ Xuyên, là người Hương Sơn Quảng Đông, nếu ngươi biết xem phong thủy, chi bằng tới Hương Sơn, nghe nói ở đó có long mạch hoàng đế. Ta không tiễn nữa, Tiểu Lục, A Tài, tiễn người anh em này về con thuyền lớn kia.”

Hai gã đàn ông bên cạnh An Long Nhi vâng dạ rồi đưa cậu đi về phía thuyền Green, Lưu hương chủ nhìn theo bóng An Long Nhi xa dần rồi khuất hẳn trên mặt sông, quay sang bảo người bên cạnh: “Tên nhóc tóc vàng này có đạo hạnh, công phu lại lợi hại khác thường, ăn nói cũng có mấy phần đạo lý, nếu người trong thành chết ráo cả, chúng ta giành lấy một tòa thành không làm gì? Đoạt giang sơn, rốt cuộc vẫn phải giành được lòng người thôi!”

Bình luận