Trảm Long - Trọn Bộ 4 Tập

Tập 1 - Chương 1: Trần Đường Phong Nguyệt


Canh tư buổi sớm ở thành Quảng Châu tối om tĩnh mịch. Khi trời gần sáng cũng là lúc con người ta ngủ say nhất. Thằng mõ đã uống chút rượu, mắt mũi kèm nhèm mơ mơ hồ hồ, xách đèn lồng chậm rãi bước đi trên con phố vắng tanh vắng ngắt, hắn phải gõ mõ báo giờ, cũng phải đi tuần phố, kiểm tra củi lửa, tiếng guốc mộc chầm chậm nện xuống mặt đất “cộc… cộc… cộc”.

Căn nhà lớn trong phường Giáp Công bỗng vọng ra tiếng đàn bà kêu thất thanh: “Á… Cứu mạng! Giết người rồi! Cứu mạng với…”

Đồng thời cũng vẳng ra tiếng gào rú của người đàn ông. Bà con lối xóm đều bị đánh thức, vội vàng khoác áo chạy tới xem xảy ra chuyện gì.

Từ trong nhà của Quách đại nhân, một người đàn bà máu me khắp người lao ra, chị ta xõa tóc, mặc bộ đồ mỏng, rõ ràng là quần áo mặc khi ngủ; tay kéo theo một đứa bé trai chừng bảy tám tuổi khắp người đầy máu, loạng choạng lao ra khỏi ngõ.

Người đàn bà vừa chạy vừa kêu gào cứu mạng, thằng bé không mặc áo, máu chảy không ngừng, phía dưới chỉ có chiếc quần ngắn tụt đến sắp rơi xuống đất. Cơ thể mềm nhũn của nó bị kéo đi, chân lê theo một vệt máu dài.

Lúc bà con lối phố mở cửa ra xem xảy ra chuyện gì, người đàn bà đã lao ra khỏi con ngõ phường Giáp Công, đụng phải thằng mõ vừa chạy tới. Thằng mõ đang cắm đầu cắm cổ chạy, không để ý có người từ góc rẽ xông ra, bị đầu người ta đụng trúng mũi, hai người cùng ngã bổ chửng, đứa bé con, dùi và chiêng đồng văng ra đất.

Thằng mõ ôm mũi, lớn tiếng hỏi: “Chuyện gì, xảy ra chuyện gì?”

Người đàn bà hoảng loạn như phát điên phát rồ, nói: “Giết người! Giết người…” Chị ta liên tục thét lên hai tiếng này, rồi lập tức bò dậy lại định chạy tháo thân.

Thằng mõ lúc này không còn lờ đờ nũa, mặc dù cái mũi bị đụng trúng một cú rõ mạnh, nước mắt nước mũi đều trào ra ngoài, nhưng hắn cũng chẳng còn tâm trí đâu mà ôm mũi nữa, lập tức ngậm chiếc còi đồng đeo trước ngực lên, ra sức thổi. Đây chính là tín hiệu mạnh nhất để gọi quan sai đến hiện trường.

Đồng thời, hai tay hắn dùng sức giữ chặt người đàn bà đang lên cơn điên này, vùng vẫy lăn lộn đến bên cạnh cây cột cổng chào của con ngõ, miệng hô hoán những người đang chạy đến cứu đứa trẻ.

Khi bà con xóm phố chạy đến vây lại bên dưới cổng chào định cứu đứa trẻ, mới phát hiện ra nó đã chết, trên ngực thằng bé hình như bị dao đâm, vết thương sâu hoắm vẫn không ngừng túa máu đỏ sậm.

Đứa trẻ mà người đàn bà kéo đi ban nãy chỉ là một cái xác không ngừng tuôn máu.

Thằng mõ gọi người đem dây thừng tới trói người đàn bà lại, rồi tìm mảnh vải nhét vào mồm chị ta. Bản thân hắn nhặt một chiếc cán chổi đang phơi trước cổng nhà bên đường để phòng thân, đoạn chạy ngay tới trước cửa nhà Quách đại nhân.

Nhà Quách đại nhân là một căn nhà lớn kiểu Tây Quan dành cho gia đình khá giả, bước vào cửa lớn còn có bức chiếu bích[3] và một giếng trời lớn, nhìn đã biết là nhà giàu có.

Thằng mõ chầm chậm mò vào cửa lớn, thò đầu qua bức bình phong nhìn vào bên trong, chợt thấy một khuôn mặt đẫm máu xuất hiện ngay trước mặt mình.

Thằng mõ kinh hãi hét lên một tiếng, lảo đảo lùi ra ngoài, ngã lăn vào góc tường cạnh cửa, mắt trừng to đến độ không khép lại được, hai tay ra sức vặn cán chổi, tựa cửa thở hổn hển.

“Thì ra Quách đại nhân đó đã chết rồi,” Đặng Nghiêu làm bộ thần bí nói với Lục Kiều Kiều.

Lục Kiều Kiều hỏi: “Chết rồi thì làm sao còn chạm mặt với thằng mõ được nhỉ? Phải ngã lăn ra đất chứ?”

Đặng Nghiêu khoảng chừng ba mươi tuổi, thân hình ngũ đoản to khỏe rắn chắc, mặc trên mình bộ áo dài màu xám trông lại càng thấp lùn. Phố phường đều gọi y là Nghiêu ca, về sau gọi trại đi thành Yêu ca (Anh Út). Đặng Nghiêu là công sai trong nha môn, Lục Kiều Kiều là thầy bói chuyên môn xem cho các kỹ nữ chốn phong nguyệt. Lục Kiều Kiều tuổi còn trẻ đã mua cả căn nhà lớn này sống một mình, không lâu sau, nhà Đặng Nghiêu cũng vì công việc mà được điều phái tới đây, họ làm hàng xóm được hai năm rồi. Lục Kiều Kiều lúc có việc làm thì ra ngoài đi một vòng, không có việc thì rúc trong nhà, cuộc sống hết sức đơn điệu, vợ chồng Đặng Nghiêu thấy rất không ổn, lần nào cũng kêu cô qua nhà mình ăn cơm nói chuyện. Kết cấu căn nhà của Đặng Nghiêu na ná căn nhà của Lục Kiều Kiều, song có bốn người ở, đồ đạc, chum nước được dùng thường xuyên, so với nhà Lục Kiều Kiều, trông có vẻ sống động và vui vẻ hơn.

Đặng tẩu ngồi trên bậc cửa căn phòng nhỏ mé Đông, vừa phe phẩy chiếc quạt nan nghe chồng kể lại vụ kỳ án xảy ra ban sớm cho Lục Kiều Kiều, vừa trông chừng hai đứa con trong phòng. Vợ chồng Đặng Nghiêu có phúc sinh được hai mụn con, một trai một gái, con gái tầm năm sáu tuổi, con trai mới lên ba, đi vẫn còn chập chững.

Đặng Nghiêu nói: “Quách đại nhân đó tay cầm mã tấu, đâm chết thằng con mình trước, sau đó định giết vợ, bà vợ hãi hùng tỉnh dậy lôi đứa bé chạy đi. Ông ta không tìm được vợ, liền quay vào đâm chết hết đám người trông trẻ, nấu cơm, sau đó ra đại sảnh cầm mã tấu chém vào mặt mình, chém mười mấy nhát, càng đau càng muốn chém, cuối cùng kiệt sức, cho nên dựa vào bình phong chờ chết.”

“Máu chảy lênh láng, ngấm cả xuống đất. Điên rồi, người trong nha môn đều bảo ông ta điên rồi.” Đặng Nghiêu vừa châm trà cho Lục Kiều Kiều vừa lẩm bẩm.

Lục Kiều Kiều phẩy quạt liên tục, nghe kể một vụ kỳ án như vậy, tinh thần đương nhiên cũng căng thẳng: “Nha môn có khẳng định là Quách đại nhân tự sát không? Liệu có người nào hại ông ta không?”

Đặng Nghiêu nói: “Quách đại nhân này làm quan ở ty Diêm Khóa, đây là chỗ béo bở chuyên lo quản lý việc buôn muối, hốt được không ít bạc, lại còn là chính Bát phẩm, sống sung sống sướng, chẳng như đám bổ đầu chưa có phẩm trật gì chúng tôi, người chẳng ra người ma chẳng ra ma, loại quan như ông ta mà tự sát thì chẳng phải điên? Ngày thường loại người này ngoài việc thu ít tiền mãi lộ ra, cũng chẳng gây thù chuốc oán với ai, đám buôn muối ở Quảng Châu không giống bọn Mã bang phía trên, họ đều là người buôn bán đứng đắn, chẳng có ai vì mấy đồng tiền vặt ấy mà giết người. Vả lại, cái mã tấu chém toác cả lưỡi hãy còn trong tay, bà vợ làm chứng, vụ này không giả được đâu.”

Lục Kiều Kiều nói: “Ối trời đúng là sợ chết đi được, chuyện này nghìn lần vạn lần chớ để tôi đụng phải, xúi quẩy, xúi quẩy lắm.”

Đặng Nghiêu áp mặt lại sát mặt Lục Kiều Kiều, thần bí nói: “Cô là Thần toán trên thuyền hoa, thử bói xem có phải phong thủy nhà bọn họ không tốt hay chăng.”

“Ha ha ha…” Lục Kiều Kiều giơ cái quạt tròn che miệng cười kiểu cách. “Tôi làm gì biết xem phong thủy chứ, kể cả cái trò xem bói kia cũng là ngón nghề mồm mép thôi, Yêu ca, huynh đã biết rõ chuyện trên giang hồ rồi, đừng lấy tôi ra làm trò cười nữa.”

Đặng Nghiêu lắc lư cái đầu nói: “Biết xem bói không biết xem phong thủy? Vớ vẩn. Nhà cô ở cạnh Vạn Hoa quán, bên đó tối nào cũng có người hứng tình nổi điên, nếu phong thủy không tốt thì cũng xảy ra chuyện như nhà Quách đại nhân kia, nói không chừng còn chặt tay chặt chân người ta rồi ném vào giếng trời nhà cô cũng nên… ha ha ha…” Nói xong liền phá lên cười.

Lục Kiều Kiều giả vờ hét lên một cách khoa trương, một tay đặt lên ngực, tay kia cầm chiếc quạt tròn vỗ vào đầu Đặng Nghiêu: “Khiếp! Sợ hết hồn. Đại tẩu trông chừng cái miệng ông chồng chị đi này!”

Đặng tẩu cũng cười nói: “Lão Yêu, ông đừng dọa đàn bà con gái nữa, mấy chục tuổi rồi mà vẫn vậy.”

Mọi người nói cười hết sức vui vẻ.

Ngày hôm sau, Lục Kiều Kiều theo hẹn ra ngoài xem bói, đến bên bờ sông Châu Giang tú lệ mà hùng vĩ. Thuyền buôn đến từ khắp nơi trên thế giới qua lại trên sông như mắc cửi. Trong đầm Bạch Nga có hàng trăm chiếc thuyền hoa đang đậu. Thuyền hoa là loại thuyền lớn hai tầng đóng bằng gỗ, mỗi tầng có thể bày được mười mấy bàn ăn lớn. Thuyền hoa tượng trưng cho sự phù hoa của Quảng Châu. Tối tối, trên thuyền hoa giai nhân như mây, quan lớn thương gia đều chẳng tiếc tiêu sạch tiền vàng, lưu luyến chốn ấm êm. Thuyền hoa đậu bên bờ, lớp tầng san sát, thuyền nọ chạm thuyền kia, nối liền như mê trận.

Lục Kiều Kiều nhảy lên những tấm ván cầu chằng chịt, len lỏi đi giữa các boong thuyền vẻ thông thạo. Lục Kiều Kiều người cũng như tên, trang phục trên người bao giờ cũng màu xanh lục, đi trên những con thuyền lớn lòe loẹt sắc màu, rất ăn nhập với hoàn cảnh, song cũng lại khiến người ta hoa mắt.

Lục Kiều Kiều bước đến boong trước của một thuyền hoa, đằng trước con thuyền có một cổng chào hình bán nguyệt, bên trên có tấm biển màu đen chạm hình mây cuộn đề hai chữ “Thiên Đức” màu vàng, Thiên Đức chính là tên của thuyền hoa này.

Thiên Đức đậu ở vòng ngoài cùng của mê trận, cách bờ xa nhất, nhưng lại gần khu giữa sông nhất. Xét từ vị trí đỗ thuyền thì phong cảnh nơi đây đẹp nhất. Đứng trên thuyền có thể thấy bầu trời rộng lớn nhất trên mặt sông Quảng Châu, đây là nơi tụ hội của ba con sông, song dòng nước lại hiền hòa êm ả, giữa đầm Bạch Nga có một cỗ thuyền buôn rất lớn, thoạt nhìn là biết con thuyền này đã trải qua vô số sóng gió từ Tây Dương đến đây.

Lục Kiều Kiều cầm chiếc quạt tròn nho nhỏ, che ánh nắng chiếu xiên, ngẩng đầu nhìn lên tầng hai chiếc thuyền hoa gọi người.

“Lan tỉ! Lan tỉ có đó không? Kiều Kiều tới rồi…”

“Đây, ở đây này…” Một giọng đàn bà trung niên ân cần đáp lại Lục Kiều Kiều.

Thuyền hoa vào buổi chiều là bình lặng nhất, khách chơi cả đêm, kẻ say thì say, người ngủ thì ngủ, nhưng cứ tờ mờ sáng là đều bỏ đi. Các cô nương trên thuyền bị khách vầy vò cả đêm, ban ngày phải ngủ cho tử tế, chuẩn bị nghênh đón một đêm ồn ào vô độ tiếp theo. Chỉ có nhà bếp chuẩn bị đồ ăn cho buổi tối, các bà lao công thu dọn tàn cuộc, chủ thuyền kiểm kê tiền thu hoạch đêm qua, ngẫm nghĩ xem có trò gì mới để bày ra cho khách.

Lan tỉ là chủ thuyền Thiên Đức, mọi việc trên thuyền đều do bà ta một tay thu vén. Lan tỉ từ trên tầng hai bước xuống, nở nụ cười rạng rỡ như đón chào khách làng chơi.

“Kiều Kiều đến rồi đấy à, dào ôi, vất vả quá, bắt cô phải đích thân đến một phen.”

Vừa nói, bà ta vừa tới bên Lục Kiều Kiều, cầm lấy tay cô, hồ hởi thân thiết như gặp lại chị em ruột đã cách xa nhiều năm.

Lục Kiều Kiều cũng không hề kém cạnh, hai tay bắt chặt lấy tay Lan tỉ nói: “Lan tỉ thật là xinh đẹp, đôi mắt này cứ như biết nói vậy, làm Kiều Kiều trông mà xốn xang cả cõi lòng.”

“Đâu có, làm sao so được với Kiều Kiều trẻ trung xinh xắn, nhỏ nhắn yêu kiều nhưng đằng trước đằng sau đâu ra đấy, tối đến cô mà lên thuyền chúng tôi ngồi một lúc, lại chẳng làm các công tử chen chúc đến chìm cả Thiên Đức nhà tôi ấy chứ.” Lan tỉ buông ra một câu đùa ở chốn phong nguyệt.

Lục Kiều Kiều cúi đầu, lấy quạt che miệng cười, tỏ vẻ hơi ngượng ngùng.

Lan tỉ miệng nói không ngớt, người cũng chẳng chịu ngồi yên, lập tức đưa Lục Kiều Kiều lên tầng hai, ngồi xuống bên cái bàn cạnh cửa sổ. Lục Kiều Kiều chọn một chỗ ngồi ngược sáng. Bà làm công pha trà ngon. Gió nồm mùa hạ khe khẽ thổi qua, hương trà nhanh chóng tràn ngập cả thuyền hoa. Lục Kiều Kiều buông quạt xuống, nâng chén trà, khẽ thổi hơi nóng, nhấp một ngụm, in dấu môi hồng trên vành chén.

“Trà Long Tỉnh ngon thật, đa tạ Lan tỉ!”

Lan tỉ nói: “Trà này là một khách buôn vải ở Chiết Giang tặng, tôi đây cũng rất thích.”

Lục Kiều Kiều nói: “Lan tỉ độ này làm ăn khá ghê, tiền bạc lụa là chẳng phải lo.”

Lan tỉ cười khoái trá: “Đúng rồi, tháng trước vừa mời được mấy cô chơi tỳ bà, đàn ca cũng khá, quý hơn nữa là nhảy múa rất đẹp, trong đó có một tiểu cô nương tên Ỷ Thúy, nhảy múa trên trà kỷ đặt chậu cây cảnh, đôi chân nhỏ phối hợp với váy sa tím dài, đúng là cực kỳ mê ly.

“Vậy là Lan tỉ muốn hỏi chuyện đàn ông rồi?” Lục Kiều Kiều hỏi.

Lan tỉ cười híp mí, chớp mắt nói: “Khà khà, Lục Kiều Kiều danh bất hư truyền, quả nhiên thần cơ diệu toán.”

“Đâu có, chuyện vặt thôi mà!” Lục Kiều Kiều khiêm tốn nói.

Lan tỉ nói tiếp: “Có một vị khách rất phóng khoáng, cả tháng nay rất năng lại đây, gọi cô nương nào cũng không thích, lại cứ thích cùng bà già này uống rượu.”

Lục Kiều Kiều nói: “Vị khách này chừng năm mươi phải không?”

“Đúng rồi, việc gì cô cũng đoán được hết. Có lẽ tuổi tác chúng tôi tầm tầm như nhau, nói chuyện cũng rất hợp, chuyện trò mãi, liền nhắc tới chuyện lập gia đình, làm tôi sợ giật cả mình. Thú thực, ấn tượng của tôi về y rất tốt, song đã mấy chục tuổi đầu rồi, xuất thân cũng chẳng tốt đẹp gì, phải đắn đo nhiều việc.”

“Với lại Lan tỉ sợ gặp phải tên cáo già, lừa tình lừa tiền phải không?”

“Thì thế nên mới nhờ Kiều Kiều cô nương tới tính hộ, xem xem việc này thực hư thế nào.”

Lan tỉ nói dứt liền uống một ngụm trà, chờ xem phản ứng của Lục Kiều Kiều.

Lục Kiều Kiều nói: “Vậy thì người tặng trà này chính là vị khách đó rồi?”

Lan tỉ cười vẻ hạnh phúc, thừa nhận việc này.

“Đã vậy xin Lan tỉ cho biết bát tự!”

“Sinh vào giờ Hợi, ngày mồng Chín tháng Mười một năm Gia Khánh thứ mười một.”

“Đại tỉ sinh vào giờ Hợi tháng Mười một à? Vậy thì chị năm nay tròn bốn mươi tuổi, từ nhỏ đến lớn đã phải bôn ba nhiều nơi, hẳn không phải là người Quảng Đông?” Lục Kiều Kiều buột miệng đoán ngay.

Lan tỉ bất giác đáp một câu “Đúng rồi!”, ánh mắt hiện lên vẻ kinh ngạc.

Lục Kiều Kiều sắc mặt bình thản, tập trung tinh thần, hai tay cùng lúc bấm độn nhẩm tính. Khuôn mặt nhọn bợt bạt của cô trông lạnh như băng trong bóng nước lóa mắt về chiều.

Tiếng đáp của Lan tỉ vừa dứt, Lục Kiều Kiều liền ngẩng đầu lên, trên môi lại nở một nụ cười quyến rũ.

“Lan tỉ nói tiếng Quảng rất tốt, song quê gốc lại ở Tây Bắc, trong nhà còn có người già con trẻ, một phụ nữ mà có thể cáng đáng một gia đình như vậy, thật chẳng dễ dàng.” Lan tỉ nghe xong, nét mặt liền đờ đẫn cả ra. Lục Kiều Kiều trông thấy vậy, đột ngột hỏi: “Chồng chị hai mươi năm trước đã bị què, không rõ bị thương ở chân trái hay chân phải?”

Đôi mắt của Lan tỉ mở to hơn lúc nào hết, thẽ thọt nói với Lục Kiều Kiều: “Bị thương ở chân trái, chữa mãi không khỏi… tôi chưa kể chuyện nhà với ai bao giờ… cô nương quả đúng là thần tiên…” Lan tỉ không cười nổi nữa, ngoảnh mặt nhìn ra phía con sông bên ngoài cửa sổ.

Sau khi đã hết ngại ngùng lúng túng, Lan tỉ mở lời trước, “Tôi cũng biết nhà đã có đàn ông, tiền gửi về cũng chẳng thiếu, hằng năm đều gửi hai đợt tiền về dưới quê. Nhưng hàng bao năm rồi, tôi làm gì ở bên ngoài đều không thể nói cho người nhà biết, cũng không thể về nhà… ôi…” Lan tỉ thở dài, rồi ngừng lại, cúi đầu khẽ nói nốt câu sau: “Còn đâu mặt mũi để về chứ…”

Lục Kiều Kiều nắm lấy tay Lan tỉ đặt lên bàn, vừa vỗ về vừa nói: “Nhà ở quê được chị gửi tiền về, nuôi lớn mấy đứa trẻ đã là phúc phận của họ rồi. Con cái không có duyên ở bên chị, ấy là số phận của chúng. Chị đã làm đủ rồi, giờ nghĩ cho mình cũng là việc thiên kinh địa nghĩa thôi.”

Lan tỉ ở chốn phong nguyệt đã lâu năm, không còn là người giàu tình cảm nữa. Vẫn có câu “gái điếm vô tình, nhà trò bất nghĩa”, đàn bà có tình sẽ chẳng thể sinh tồn ở chốn hoan lạc này. Song nghe Lục Kiều Kiều nói, khóe mắt chị ta lại ẩm ướt, đôi bàn tay bắt chặt lấy tay Lục Kiều Kiều. Lục Kiều Kiều thì không cảm động, bởi ngày nào mà cô chẳng gặp mấy chuyện này, bảo là chai sạn cũng được, bảo là quen rồi cũng được, cô chỉ biết trên đời này, người xấu số nhiều hơn người tốt số, nhưng tiền của người tốt số thì dễ kiếm hơn. Những lời an ủi kia chỉ là sáo ngữ, sáo nhưng mà ra tiền.

Lục Kiều Kiều thấy tình cảm đã chín muồi, liền lắc tay Lan tỉ nói: “Lan tỉ, ngày thường xem tôi chỉ thu một lạng bạc, hôm nay xem cho chị, tôi thu năm lạng.”

Lan tỉ vừa nghe thấy giá cả tăng vọt, vội định thần lại, bản năng của bà chủ thuyền hoa lại lộ ra: “Ô hay, sao tôi lại có máu mặt đến thế cơ à? Nhưng Kiều Kiều cô nương có thể cho biết lý do thu thêm không?”

Lục Kiều Kiều nói: “Lan tỉ, đây là tôi báo hỷ cho tỉ đấy! Từ tháng sau, chuyện làm ăn của chị còn lớn hơn nữa, đến mùa thu thì kiếm được gấp đôi bây giờ, chị là bà chủ lớn, tôi thu ít đâm ra lại mất mặt ấy chứ!”

Lan tỉ nghe nói vậy, liền cười híp mắt lại như sợi chỉ: “Đúng rồi đúng rồi, đây cũng chính là việc tôi vốn dĩ muốn hỏi. Tôi đã bàn với thuyền hoa màu xanh lam ở kế bên, họ đã đồng ý bán thuyền cho tôi, giá chắc không thấp được, nhưng tôi đang phân vân không biết làm vậy liệu có lỗ vốn không, nghe cô nói vậy thì tôi yên tâm rồi. Năm lạng bạc này đáng lắm chứ. À phải rồi, thuyền này của tôi tên là Thiên Đức, thuyền mới đổi tên là Nguyệt Đức, cô xem có được không?”

Lục Kiều Kiều nói: “Đổi tên thuyền mới thì phải thu thêm phí đấy nhé. Tuy nhiên con người Lan tỉ sảng khoái, là người phát tài, tôi cũng không thể bủn xỉn được, sau này chị giới thiệu mối làm ăn cho tôi thì được rồi.” Lục Kiều Kiều tiếp lời: “Thiên là dương, Nguyệt là âm, Thiên Đức, Nguyệt Đức là âm dương hợp nhất, vốn không thể tốt hơn được. Biển hiệu Thiên Đức dùng nền đen chữ vàng, lấy âm trong dương, đối với chị vẫn là vượng tài, song thuyền hoa mà đặt tên là Nguyệt Đức thì phải đổi thành màu đỏ vàng, cốt để lấy dương trong âm, sao cho âm dương cân bằng, như vậy mới dễ phát tài.”

Lan tỉ nghe xong, mừng rỡ nói: “Thần tiên sống bảo được, nhất định là sẽ được. Còn người kia…”

Lục Kiều Kiều cũng cười nói: “Lan tỉ đừng sốt sắng, mặt trời còn chưa xuống núi mà. Xin chớ trách, nhưng có thể trả tiền trước không?”

Lan tỉ sốt ruột muốn biết kết quả, vội gật đầu ngay, quay người trở vào phòng kế toán lấy ngân phiếu năm lạng đưa cho Lục Kiều Kiều. “Đa tạ!” Lục Kiều Kiều hai tay đón lấy ngân phiếu, chậm rãi khom mình với Lan tỉ. Sau đó, cô cất ngân phiếu đi, ngẩng đầu lên nói nốt:

“Năm nay mệnh của chị có Thiên Quan thấu xuất, không khống chế sẽ thành sát mệnh, song lại có Đào hoa đồng hiện, thành ra hung cục Đào hoa đới sát; năm nay chị làm ăn rất khá, lại đang định mở rộng làm lớn, năm hạn mà tài tinh đại vượng, tài tinh làm động sát tinh, vậy nên tài càng vượng thì sát càng vượng…” Nói đến đây, Lục Kiều Kiều ngừng lại, cô biết rõ Lan tỉ có lời muốn hỏi.

“Nghĩa là sao, tôi không hiểu, có thể nói rõ hơn không?”

Từ lời nói ngữ điệu của Lục Kiều Kiều, Lan tỉ đã cảm thấy có sự bất thường. Lục Kiều Kiều bấy giờ mới nói tiếp: “Nói đơn giản tức là tài vận của chị rất tốt, song tài vận sẽ mang lại tai họa sát thân, mà cái họa sát thân này liên quan tới đàn ông.”

Lan tỉ mở to mắt, chớp chớp nghiền ngẫm lời nói của Lục Kiều Kiều. Lục Kiều Kiều tiếp tục nói: “Chị kiếm tiền càng nhiều càng nguy hiểm.”

Mồ hôi lóng lánh vã ra trên trán Lan tỉ, nhất thời cũng không biết phải hỏi gì.

“Vị khách chị nhắc đến rất có thể là một kẻ lừa đảo, thường thì lấy lòng trước, vào phòng rồi mới moi tiền,” Lục Kiều Kiều nói. “Cô nương bình thường trên thuyền hoa lấy đâu ra tiền, lừa gạt hay không cũng thế, bỏ tiền ra mua là được, song bà chủ như chị đây lại chính là đối tượng những tên lừa gạt muốn hạ thủ nhất. Y mà là kẻ lừa đảo, đã bỏ ra bao nhiêu tiền như vậy, nếu không thành công thì sẽ không thôi đâu.” Lục Kiều Kiều lại ngừng lại, xoay xoay chén trà trong tay, đợi Lan tỉ hỏi câu tiếp theo.

“Vậy phải làm sao?” Đây là câu Lan tỉ chắc chắn sẽ hỏi, mặc dù giọng nói có chút mất tự nhiên.

Lục Kiều Kiều nói: “Lan tỉ là người tốt, nghe các cô nương nói chị đối xử với họ cũng tử tế lắm, tôi sẽ giúp. Chị có thể mở thuyền hoa, chắc không thể nào không có đại gia đỡ đầu, nhưng nước xa không cứu được lửa gần, một khi gây ra chuyện, gây tranh đấu thì chẳng ai có lợi. Tôi nghĩ thế này, chị mời vị khách đó một bàn trà, chớ có nhận tiền nữa, trên bàn trà đặt ba cái chén, rót trà lên, sắp thành một đường thẳng, vòi ấm chĩa vào chén thứ nhất, sau đó trước đây chị nhận bao nhiêu tiền thì trả lại nguyên vẹn, chị uống một chén ở giữa trước, sau đó lại rót đầy, mời y uống. Người trong nghề tự nhiên sẽ hiểu, thông thường y sẽ uống cái chén ở giữa ấy, sau đó thu tiền lại bỏ đi, sau này sẽ không đến đây tìm chị nữa.” Lục Kiều Kiều vừa nói, vừa bày trận thế chén trà trên bàn làm mẫu cho Lan tỉ.

“Tại sao vậy?” Lan tỉ lại hỏi.

Lục Kiều Kiều vội nói: “Việc này không thể nói được, khì khì, xin chị chớ chê trách!”

Lan tỉ phục sát đất: “Cô nương tuổi còn trẻ mà đã tinh thông toán mệnh, lại còn có kinh nghiệm giang hồ nữa, thật đúng là thần nhân vậy!”

Nụ cười của Lục Kiều Kiều vẫn yêu kiều quyến rũ như thế, nhìn nét mặt có thể nhận ra gương mặt non nớt của một cô bé mười mấy tuổi đầu. Cô nói với Lan tỉ: “Trò vặt vãnh thôi mà.”

Lúc rời khỏi thuyền hoa, mặt trời đã xế Tây.

Lan tỉ để bà làm công tiễn Lục Kiều Kiều lên bờ, lên đến nơi, Lục Kiều Kiều lấy trong túi ra một xâu tiền đặt vào tay bà ta, nói: “Đa tạ dì Kim, đây là một trăm đồng của dì, sau này xin quan tâm Kiều Kiều nhiều hơn,” đoạn mỉm cười, hơi khom mình làm lễ. Dì Kim nhận tiền, cười ha hả, mau miệng nói: “Chắc chắn rồi, Kiều Kiều về nhé, khà khà…”

Ráng chiều vàng vọt, soi bóng Lục Kiều Kiều lẻ loi trên đường, trong con ngõ dài chật hẹp, cái bóng ấy trông càng gầy guộc. Lục Kiều Kiều xách một vò rượu trên tay, tối nay chỉ có vò rượu này làm bạn cùng cô.

Lục Kiều Kiều ở đây đã được ba năm. Tối đến, cô có thể nằm trên giường nghe hết mọi thứ âm thanh trong quán Vạn Hoa. Nào là tiếng í ới, mời gọi, tiếng gác xoong gác nồi trong bếp, tiếng đàn tiếng hát, tiếng kỹ nữ cười đùa, rên xiết, tiếng các vị hào khách bàn chuyện lớn lao, tiếng ma cô, tú bà đánh chửi kỹ nữ… mớ thanh âm đó như một tấm lưới bao trùm lên căn nhà Lục Kiều Kiều mua từ năm ngoái.

Căn nhà của Lục Kiều Kiều có ba gian, bước ra là giếng trời, tức khoảnh sân lộ thiên, ở giữa còn có một giếng nước. Giếng nước này rất quan trọng với nhà Lục Kiều Kiều, đàn bà con gái hôm nào cũng đi qua đi lại trong ngõ gánh nước giặt giũ chẳng an toàn chút nào. Cũng bởi có giếng nước, nên căn nhà này mới đắt giá nhất trong ngõ Hinh Lan. Từ giếng trời đi ra tiếp là phòng khách, chỉ cần mở cửa gỗ là có thể ngồi trong phòng khách nhìn ra ngõ Hinh Lan.

Đây là một gian nhà nhỏ xinh kiểu Tây Quan điển hình.

Cách đây ba năm, khi Lục Kiều Kiều mới tới thành Quảng Châu đã lập tức chọn nơi này trọ lại.

Đối với cô, chỗ đông đúc mới là nơi thích hợp cho một cô gái sống một mình. Nơi đàn bà con gái đông đúc, bản thân mình mới không bắt mắt. Trong thành, nơi người đông gái đông ngoài kỹ viện ra chẳng có sự lựa chọn nào khác. Ở đây, Lục Kiều Kiều còn có thể dễ dàng tìm được rất nhiều khách hàng.

Một cô gái mở quán xem bói cho người chẳng khác nào tìm đến cái chết. Ngày ngày, quân lưu manh chỉ biết gây sự tìm vui và bọn giang hồ mồm chó vó ngựa chắc chắn sẽ nhiều hơn khách hàng. Vả lại, mở hiệu xem bói thì phải nộp thuế, Lục Kiều Kiều không ngớ ngẩn đến vậy. Mặc dù thầy phong thủy có thể kiếm được khối tiền, song một cô gái muốn làm thầy phong thủy là điều hoàn toàn không thể. Việc của thầy phong thủy bao gồm cả sinh lão bệnh tử của dân chúng, có một số nơi, thậm chí đàn bà con gái còn không được phép vào, cũng không được phép nhìn, huống hồ là mời một cô gái đến xem phong thủy.

Lục Kiều Kiều muốn kiếm tiền một cách an toàn, tốt nhất là tìm mối trong đám đàn bà con gái.

Phố Bình Khang nằm ở Trần Đường phía Tây thành Quảng Châu, cách đầm Bạch Nga một hai dặm, đi bộ cùng lắm chỉ mất một tuần hương. Trên quãng đường dài bằng một tuần hương, tính cả thuyền hoa trên đầm Bạch Nga, hầu hết đều là chốn trăng gió. Vậy nên thời bấy giờ, nơi đây được gọi là Trần Đường phong nguyệt.

Một thầy bói nữ rất dễ dàng tìm được khách nữ ở đây. Các kỹ nữ chốn này phần đông đều đã bán mình, đi nhà xí cũng có người đứng canh, nếu có việc nhất định phải ra ngoài, thì lúc nào cũng có mấy gã đại hán dàn trận đợi sẵn, cơ hội ra ngoài thật sự ít càng thêm ít. Vì thế, các chị em có nhu cầu tính năm hạn, hỏi sự nọ sự kia nhiều vô cùng, nhưng lại không tiện ra ngoài đến quầy xem bói để xin quẻ, vậy là, người có thể đến tận nơi xem bói cho kỹ nữ như Lục Kiều Kiều vừa khéo tìm được đất dụng võ.

Lục Kiều Kiều trang điểm sặc sỡ ra vào ngõ liễu tường hoa hoàn toàn không có gì nổi bật. Chỉ cần không người đàn ông nào biết nhà của Lục Kiều Kiều, cuộc sống của cô sẽ luôn phẳng lặng. Ngoài ra, còn có một nguyên nhân quan trọng hơn, đó là Lục Kiều Kiều cho rằng chỉ có chốn yên hoa mới là nơi cô nên ở, chỉ có đánh bạn với đám kỹ nữ mới là kết cục nên có của mình.

Lục Kiều Kiều nằm nghiêng trên giường trúc ngoài giếng trời. Ánh trăng chiếu xiên xuống giếng trời, song không chiếu tới Lục Kiều Kiều nằm trong góc khuất.

Tối đến không cần thiết phải thắp đèn, nhà Lục Kiều Kiều có đủ ánh sáng bởi nằm dưới ánh đèn rực rỡ của quán Vạn Hoa. Nhà mà thắp đèn, cũng không có lợi cho người con gái sống độc thân. Chấm sáng lập lòe duy nhất trong chỗ tối tăm chính là ngọn đèn thuốc Lục Kiều Kiều đặt ở cạnh giường.

Đến Quảng Châu không lâu, Lục Kiều Kiều liền hút thuốc phiện, thuốc phiện có thể đem lại cho cô sự tĩnh lặng, lãng quên trong giây lát, song cũng tăng thêm gánh nặng tiền bạc của Lục Kiều Kiều. Thuốc phiện rất thơm, mang đến cảm giác dễ chịu lại đã nghiền, song là thứ càng hút càng muốn hút thêm. Thoạt đầu một ngày hút vài cữ, về sau một ngày mười mấy cữ. Lục Kiều Kiều không hút hàng rẻ tiền, ít nhất cũng phải là thuốc chín lâu năm, thuộc loại thượng hạng của Vân Nam, một lạng bạc một lạng thuốc, mà cũng chỉ có thể hút trong một hai ngày. Nếu có hàng Ấn Độ do thuyền Anh quốc chở đến thì càng tốt, song cũng đắt hơn, hàng thượng hạng một lạng cao thuốc phải hai lạng bạc.

Bạc ơi là bạc!

Lục Kiều Kiều thích cảm giác sốt sắng khi nghĩ đến tiền bạc này, như vậy thì sẽ bớt nghĩ đến những chuyện khác, rầu rĩ vì tiền, chẳng ngờ lại đơn thuần và khoái lạc như thế. Lục Kiều Kiều hít sâu một hơi thuốc, lẳng lặng nằm trên giường trúc đợi cảm giác thỏa mãn dâng lên.

Người cô trở nên nhẹ nhõm, bầu trời cũng bắt đầu sáng lấp lóa, muôn vì sao dần có sắc màu, cảm giác cơ thể mình trống rỗng chính là khi sự vật xung quanh đều rất thực tại. Quá khứ đã trôi qua, tương lai còn chưa đến, sự hư vô trong giây phút này là niềm hạnh phúc lớn nhất, cứ ngủ lịm đi như vậy mới không còn thấy cô đơn.

Nửa đêm thức giấc, Lục Kiều Kiều hết sức tỉnh táo.

Tiếng ồn bên quán Vạn Hoa nhỏ hơn một chút, quan khách đều đã vào phòng cả.

Ánh trăng rời đến mé bên kia giếng trời, phủ lên người Lục Kiều Kiều. Cô nhấc vò rượu cao lương đặt trên bàn rót cho mình một chén. Người Quảng Châu rất ít khi uống rượu cao lương, ở đây hiếm người có tửu lượng tốt. Tửu lượng của Lục Kiều Kiều cũng không tốt, uống rượu cao lương dễ say, say là có thể ngủ.

Một chén, hai chén, ba chén…

Trước khi say khướt, trong đầu Lục Kiều Kiều không ngừng nghĩ đến một việc, tiền không đủ tiêu, ngày mai phải đi mua một người.

Trong góc tối trên nóc nhà có một người đang ngồi, cái bóng ấy gầy nhỏ mà lặng lẽ, tựa như một phần của tòa kiến trúc. Thấy Lục Kiều Kiều gục xuống ngủ thiếp đi, người ấy cũng rất chậm rãi nằm xuống ngách sâu bên trong góc tối, chỉ sợ phát ra tiếng động.

Ánh dương buổi sớm chiếu qua cửa sổ trên nóc vào nhà Lục Kiều Kiều. Sau khi tắm rửa chải chuốt, Lục Kiều Kiều trông thật trong sáng mảnh mai, khuôn mặt không tô vẽ nhìn chỉ như thiếu nữ mười bảy mười tám.

Hôm nay không hợp mặc áo quần sặc sỡ, cũng không hợp tô son trát phấn. Tấm áo chẽn màu thủy lục khiến Lục Kiều Kiều trông có vẻ nhỏ nhắn đáng yêu, lại tết tóc đuôi sam dài, hệt như một a đầu quản sự của nhà phú hộ. Tới ven bờ Châu Giang, Lục Kiều Kiều gọi một chiếc xe kéo lại, phu xe đợi Kiều Kiều ngồi vững, rồi quay đầu lại hỏi: “Xin hỏi, tiểu thư muốn đi đâu?”

Thuật chiêm bốc Mai Hoa dịch số lấy số động đặt quẻ, vào đúng lúc gieo quẻ sẽ lấy sự vật hiện tượng có chuyển động vừa xuất hiện làm quẻ số, cũng phải có người hỏi mới có thể đặt quẻ, Lục Kiều Kiều đang đợi chính là câu hỏi này.

Người phu xe bắt đầu chạy, chính là tượng động. Lục Kiều Kiều xem mã số trên lưng áo người phu xe, trên lưng áo anh ta có hai chữ Thuận Hưng, Thuận Hưng là tên bến xe kéo này, dưới cái tên còn có hai con số Nhất – Tứ.

Lục Kiều Kiều thầm đặt quẻ tính toán: Nhất Tứ là quẻ Thiên Lôi Vô Vọng, Kim quẻ Thiên khắc Mộc quẻ Địa, có người mất, có người được, phương Tây thắng, phương Đông bại, ừm, theo Kim khí đi từ Tây sang Đông, khắc Mộc được lợi.

“Đại ca, đi về hướng Đông nhé, đi cửa Nam Vĩnh Hán, đừng đi lối bờ sông.” Lục Kiều Kiều tinh thông thuật số, ngũ hành gặp Thủy có thể hóa giải hình thế Kim Mộc khắc nhau. Cô không muốn đi lối bờ sông, nước lớn ở ven sông sẽ làm hỏng việc lần này.

Phu xe lớn tiếng trả lời: “Vâng, vậy đi bên trong tường thành cô nhé!” Nói đoạn, chiếc xe kêu cộc cộc cộc, lăn đi trên đường.

Anh phu xe chẳng mấy khi được chở mỹ nữ, cả xe sực lên mùi hương ngan ngát của Kiều Kiều, khiến anh ta kéo xe mà tâm trạng vô cùng hưng phấn. Vả lại mỹ nữ cũng chẳng nặng mấy, chạy trên đường như thể kéo xe không, một chốc đã tới cửa Nam rồi.

Lục Kiều Kiều xuống xe, không thèm hỏi giá tiền, trả ngay anh phu xe mười đồng.

Phu xe nhận tiền xem lại, lập tức nói: “Tiểu thư ơi, đường xa như thế phải mười lăm đồng.”

Lục Kiều Kiều nở một nụ cười nói: “Đại ca, tôi lần nào tới đây cũng chỉ trả mười đồng, huynh tính giá trong nghề với nhau đi.”

Phu xe nghiêm túc nói: “Sao thế được? Chúng tôi kéo xe đều có quy củ, không lừa tiền của cô đâu, đoạn đường này không thể chỉ trả mười đồng được.”

Lục Kiều Kiều không cười nữa, cô bĩu môi moi từ trong túi ra hai đồng một đồng dúi vào tay phu xe: “Mười hai đồng, đồ bủn xỉn!”, nói đoạn liền quay người bỏ đi.

Lục Kiều Kiều bước vào một quán trà, tìm một chỗ ngồi ở tầng hai. Từ vị trí này có thể quan sát được ngã tư bên dưới và chợ búa ở xung quanh.

Bên dưới là một khu chợ lớn, đầy rẫy quầy hàng, người qua lại đông đúc. Nào cắt tóc cạo mặt, nào xem bói đoán chữ, vá áo sửa giày, thức sống thức chín, thuốc bổ thuốc độc, hàng tây hàng ta… thứ gì cũng bán. Ở một góc ngã tư còn có một gánh mãi võ.

Bên ngoài gánh mãi võ, người đứng xem xúm lại thành ba vòng. Ở giữa có sáu đứa trẻ con, có một đứa con gái đang biểu diễn múa roi chín đốt, đường roi quất nhanh đến nỗi không nhìn thấy bóng. Lục Kiều Kiều ngồi trên tầng hai quán trà vẫn nghe được tiếng roi thép xé gió vun vút, đủ thấy lực đạo đường roi mạnh mẽ nhường nào, khiến khán giả không ngớt reo hò.

Phía trong gánh mãi võ bày một giá binh khí, trên giá có các loại đao, thương, kiếm, côn, dài ngắn đủ loại. Bên cạnh giá binh khí là một lá cờ lớn hình tam giác màu xanh lam, trên cờ viết một chữ Tiêu to cỡ cái đấu. Trên chiếc hòm dưới lá cờ có một trung niên ngồi chễm chệ, xem chừng là chủ gánh mãi võ trẻ con này. Thân hình y cao to vạm vỡ, mặc một bộ võ phục ngắn, chân chít xà cạp, đi giày bó, phía trên lộ một nửa ngực và cánh tay, mặt không để râu, song lại có thể thấy cuống râu đen dày đặc, có thể nhận thấy đây là một kẻ vốn râu ria xồm xoàm.

Lục Kiều Kiều quan sát kỹ càng từng đứa trẻ trong gánh mãi võ. Con gái thì khỏi cần, cô chỉ nhìn con trai. Ở đây có ba đứa con trai, đều quãng mười hai, mười ba tuổi. Một đứa mặc bộ màu đen, trông xinh trai nhã nhặn, chỉ nhìn mặt thôi không cẩn thận lại nghĩ nó là con gái. Trong mấy đứa thì nó cao nhất, bộ dạng vẫn giống trẻ con, song đã cao như người lớn. Một đứa khác mặc áo xanh, mặt mũi ngay ngắn, mắt to mày rậm, rất có phong thái tướng quân, đặc biệt lại có mái tóc vàng ươm, đàn ông đều tết tóc đuôi sam dài, riêng nó chỉ có một cái đuôi sam nhỏ, dài cỡ cây đũa, buông ra sau gáy. Đứa thứ ba là một thằng béo chuyên khua chiêng gõ trống, béo chắc nịch, song lại mặc một bộ màu đỏ nên trông béo quá mức. Vẻ mặt thật thà trung hậu, trời sinh đã có tướng chọc cười người khác, lúc nào cũng cười ha hả, như không khép được miệng lại.

Đứa bé gái biểu diễn roi chín đốt xong, một hồi chiêng trống vang lên, đến lượt bọn con trai ra biểu diễn. Hai đứa cùng lúc nhảy ra, đứa áo đen cầm đơn đao, đứa tóc vàng cầm trường thương, xem chừng định biểu diễn màn Đao phá thương.

Đao thương trong chớp mắt đã bày thế xong xuôi, màn biểu diễn lập tức bắt đầu.

Diễn xuất của hai đứa trẻ đều mạnh mẽ uy vũ, đao thương lướt qua sát người, nguy như gọt tóc, từng lưỡi đao chém vào chỗ hiểm, từng đòn thương đâm vào nơi yếu hại, tiếng đao thương va chạm như tiếng rèn sắt, tiếng nào tiếng nấy đều chấn động lòng người, công phu trình độ này tuyệt đối hiếm gặp trong đám bán nghệ nuôi thân. Công phu giỏi thì đương nhiên được cổ vũ nhiệt liệt, hai đứa trẻ biểu diễn xong, trong tiếng hoan hô đã có người ném tiền vào trong gánh. Bọn trẻ con trong gánh mãi võ cũng chẳng ngơi tay, lập tức nhặt những đồng tiền vung vãi trên mặt đất, đồng thời dựng một hình nộm bằng cỏ lên bức tường phía sau.

Lần này là thằng bé tóc vàng ra biểu diễn, trên người nó quấn mấy vòng dây thừng màu vàng thắt quanh hai vai. Nó chắp tay chào khán giả, khom người như ngồi xổm, rồi giậm chân đánh “bịch” một tiếng, làm đất cát xung quanh bắn lên, thân hình không ngờ đã mượn đà nhảy lên không trung.

Người đang ở lưng chừng không xoay một vòng nhẹ nhàng, đống dây thừng trên người nó đột nhiên buông lỏng, một đầu dây thừng đính với một mũi tiêu thép. Mũi tiêu thép vừa bay ra từ chỗ eo thằng bé tóc vàng, người còn chưa tiếp đất, nó đã đá văng mũi tiêu về phía cổ của hình nộm bên tường, phập một tiếng, đầu hình nộm bung ra.

“Ồ!” Đám đông đồng thanh thốt lên kinh hãi. Lục Kiều Kiều khẽ chau mày, thằng bé này được quan chúng hoan nghênh, điều này không hề có lợi cho việc cô sắp làm. Thứ binh khí cậu bé tóc vàng biểu diễn gọi là tiêu thừng, thuộc loại binh khí mềm. Bởi vì nó chỉ là một sợi dây thừng dài một trượng ba thước gắn với một đầu tiêu làm bằng thép, kích thước nhỏ, tiện giắt theo người, các tiêu sư thời cổ thường dùng làm ám khí hoặc vũ khí phòng bị mang trên người.

Thằng bé tóc vàng giật tay về phía sau, sợi dây kéo mũi tiêu bay về, mũi tiêu lập tức lao thẳng về phía vai phải nó. Thằng bé lùi nửa bước, vai phải nghiêng ra sau tránh cho mũi tiêu bay qua, tay phải gập lại để dây thừng quấn hai vòng quanh cùi chỏ, đồng thời chồm người về phía trước lộn một vòng, mũi tiêu thép không ngừng chuyển động xung quanh người nó.

Thằng bé ngẩng đầu lên, người đã ngồi chồm hỗm trên mặt đất, mũi tiêu thép lại có lực văng mới, một lần nữa lại phóng về phía hình nộm. Lần này tiêu thép phi vào tay trái hình nộm, lại một tiếng “phập” vang lên, tay trái hình nộm lập tức rớt xuống.

Tiếng trầm trồ kinh ngạc của khán giả càng lớn hơn, tiếng vỗ tay cùng lúc vang lên không ngớt.

Có màn biểu diễn đặc sắc, mọi người vây lại mỗi lúc một đông, mỗi lần tiêu thép phóng ra trúng mục tiêu, đám đông lại đồng thanh kêu lớn: “Giỏi quá!” Sau khi chân tay của hình nộm đều đã đứt, trên mặt đất lại vung vãi không ít tiền lẻ. Lục Kiều Kiều ngồi trên lầu, đếm số tiền rơi trên đất, nhẩm tính thu nhập một ngày của gánh mãi võ.

Uống hết ấm trà, gánh mãi võ lại biểu diễn tiết mục khác, thằng bé béo bước ra biểu diễn màn lấy ngực đè nát đá, chủ gánh mãi võ biểu diễn múa đinh ba, đâm thương vào cổ, còn dùng tay chém mấy miếng ngói xanh, mỗi lần chém lại hô lớn tiếng “oa da da”. Xem ra màn biểu diễn của gánh võ dưới lầu cũng sắp kết thúc.

Đám con trai đứng thành một hàng chắp tay hành lễ, đứa con gái bưng khay đi thu tiền của mọi người, đám người om sòm giải tán, đi bằng sạch. Đám trẻ con thu dọn đồ đạc, tay chủ gánh mãi võ vạm vỡ cũng tê cả tay sau khi chặt hết đống ngói, chống nạnh thở hổn hển. Lục Kiều Kiều quan sát nét mặt ông ta từ xa, định dựa vào tướng mạo mà đoán ra một vài chuyện riêng tư của người này.

Nhìn một lúc, Lục Kiều Kiều đã chắc mẩm trong lòng, bèn trả tiền rời khỏi trà lâu, đi thẳng về phía người chủ gánh mãi võ. Cô bước đến trước gánh mãi võ đang thu dọn đồ nghề, khom mình nói với chủ gánh:

“Xin chào đại thúc, tiểu nữ tên là Kiều Kiều, sư phụ tiểu nữ là Linh Hư đạo trưởng có dặn tiểu nữ tới bàn với đại thúc chút việc.”

Hai mắt chủ gánh mãi võ sáng bừng lên. Tiểu cô nương xinh xắn này trông yếu ớt nhưng lại có vẻ thoát tục, ông ta là kẻ võ biền, chẳng có cơ hội tiếp xúc với người nho nhã, thấy Lục Kiều Kiều lễ độ như vậy, đâm ra hơi ngại ngùng.

“Ha ha, chớ khách khí! Tại hạ là Sái Tiêu, cô nương có việc gì vậy?” Sái Tiêu vừa cười nói, vừa vuốt trán gượng gạo như thể lau mồ hôi.

“Thì ra là Sái sư phụ, xin chào Sái sư phụ!” Lục Kiều Kiều lại hành lễ, rồi lập tức nói tiếp: “Phụ thân ngài vừa mất cách đây không lâu, vẫn trong bảy bảy bốn chín ngày, ngài vẫn đang để tang, song tai vạ đẫm máu đã ở trước mặt, không lâu nữa sẽ rời khỏi nhân thế, sư phụ tôi bảo tôi tới giúp ngài.”

“Hả?”

Sái Tiêu bỗng kinh ngạc sững sờ, trong đầu liên tục ngẫm nghĩ xem đã xảy ra chuyện gì, người trước mặt là ai, đến tìm mình có mục đích gì.

Phản ứng của Sái Tiêu hoàn toàn nằm trong suy tính của Lục Kiều Kiều, điều này chứng tỏ tình hình phản ánh qua tướng mạo là chân thực. Nhát dao đầu tiên đã đâm trúng chỗ yếu hại. Sái Tiêu vội trấn định tinh thần, sắc mặt vẫn bợt bạt, nhưng đã lấy lại vẻ nghiêm trang nói với Lục Kiều Kiều:

“Nhà Sái mỗ có việc tang, người trong làng đều biết, cô nương đừng hòng nói nhăng cuội rằng ta sẽ chết này nọ. Ta hành tẩu giang hồ mấy chục năm, các ngón lừa bịp đều đã gặp rồi, cô nương muốn gì cứ nói thẳng, đừng có giả thần giả quỷ.”

Lục Kiều Kiều bình tĩnh cười an ủi Sái Tiêu: “Sái sư phụ, ngài chớ lo lắng, sư phụ tôi không lừa lấy tiền ngài đâu. Sư phụ tôi là tiên nhân đắc đạo ở núi Long Hổ Giang Tây, đi ngang qua nơi này thấy sắc mặt ngài có tử khí, tai vạ đẫm máu đã đến gần, nên mới dặn tôi tới cảnh báo ngài.”

Sái Tiêu lo lắng nhìn trước ngó sau, đoạn hỏi Lục Kiều Kiều: “Sư phụ cô nương đâu?”

Lục Kiều Kiều nói: “Sư phụ tôi là cao nhân ẩn dật, người ở gần đây, nếu có duyên sẽ hội kiến ngài, giờ chỉ cần tôi giúp ngài là được. Ngài có nể tình tới trà lâu đối diện uống chén trà bàn công chuyện chăng?”

Sái Tiêu thấy Lục Kiều Kiều có vẻ là người đọc sách biết lễ nghĩa, ngắm nghía kỹ càng, thấy tiểu cô nương này da trắng nõn, khuôn mặt trái xoan thanh tú, nói tiếng Quảng hơi pha giọng ngoại tỉnh, không giống bọn cò bợm bản địa. Vả lại, bọn cò bợm xưa nay chỉ ra tay với những hộ giàu có, bản thân ông ta là người mãi võ, cũng chẳng có tiền cho người ta lừa gạt, nhờ thế tâm lý đề phòng vơi được vài phần, lòng lại sinh bán tín bán nghi, ngộ nhỡ lời của tiểu cô nương này là thật, chẳng phải mạng mình sắp mất toi sao? Uống chén trà nghe ngóng xem có việc gì cũng chẳng sao, nếu không tin mà xảy ra đại sự, bấy giờ có hối cũng không kịp.

Sái Tiêu nghĩ đoạn bèn thu xếp cho mấy đứa trẻ nghỉ ngơi dưới bờ tường, rồi đi theo Lục Kiều Kiều tới trà lâu bên cạnh ngã tư đường.

Sái Tiêu chọn chỗ ngồi bên cạnh song cửa để trông chừng lũ trẻ, sợ chúng đi mất, đây cũng là vị trí Lục Kiều Kiều đã chọn sẵn trong đầu.

Sau khi hai người ngồi yên vị, Lục Kiều Kiều lại rời khỏi bàn, xuống bếp dặn dò tiểu nhị mang cho ba đứa bé gái của Sái Tiêu ngồi bên tường bao dưới lầu ba chiếc bánh đường trắng trước, con gái đều thích ăn đồ ngọt, mỗi đứa vừa khéo có một chiếc; con trai thích ăn thứ có thể lấp đầy bụng, vậy bánh củ cải là hợp lý nhất, song ba đứa con trai chỉ có hai chiếc bánh củ cải, như vậy một đứa sẽ không có đồ ăn. Trong lòng Lục Kiều Kiều hiểu rất rõ, đưa ra thử thách cho đám trẻ vào đúng lúc chúng đói nhất, mới có thể thấy được tính cách thực của chúng. Đứa trẻ tóc vàng có vẻ mặt chính trực nhất, rất có khả năng nó sẽ nhường bánh củ cải cho những đứa còn lại.

Tiểu nhị chuẩn bị đồ điểm tâm mang ra, Lục Kiều Kiều quay trở lại chỗ ngồi nhìn mặt Sái Tiêu, đồng thời nở một nụ cười điềm nhiên tự tại như xưa nay vẫn thế, cô quan sát kỹ từng li từng tí trên gương mặt đối phương, không bỏ qua bất kỳ chi tiết nào. Sái Tiêu từ trước tới giờ chưa từng bị ai nhìn chằm chặp như vậy, huống hồ người nhìn lại là một tiểu cô nương xinh xắn, đôi mắt to đẹp khiến người ta không dám nhìn thẳng, mùi hương thiếu nữ lởn vởn quanh mình, thoảng bay vào mũi, khiến ông ta bứt rứt không yên, không biết nên đặt hai tay vào đâu nữa.

Trong mắt Lục Kiều Kiều, gương mặt này có thể nói lên toàn bộ bí mật của Sái Tiêu.

Mé trán bên trái của Sái Tiêu lõm xuống, phần này gọi là Nhật Giác, là vị trí tượng trưng cho người cha. Nhật Giác lõm là tín hiệu rõ ràng chứng tỏ người cha đã mất, lại thêm phần Thiên Đình ở giữa trán phảng phất có khí màu xanh, phối hợp với Nhật Giác hõm xuống, chứng tỏ thân phụ của Sái Tiêu mới mất, vậy nên ban nãy Lục Kiều Kiều vừa mở lời đã nói việc mình nắm chắc mười phần này nhằm trấn áp tinh thần của Sái Tiêu, như vậy mới tiện nói những lời tiếp theo.

Sái Tiêu có lông mày thô rậm, song phần đuôi tán loạn, chứng tỏ huynh đệ phân ly, nửa sau phần xương lông mày bên trái có vài vết cạo xước, tựa như bất cẩn bị dao cạo liếm qua, khiến lông mày không thể mọc lên được. Mặt khác, bên trái vị trí năm hạn hai mươi tám tuổi ở Ấn Đường hơi lõm, từ đó có thể đoán định rằng năm hai mươi tám tuổi huynh đệ qua đời.

Phần Lệ Đường dưới khóe mắt tượng trưng cho con cái, nếu đầy đặn sáng sủa thường có con đàn cháu đống, đồng thời con cháu rất có chí cầu tiến. Lệ Đường của Sái Tiêu tuy không có sắc đen, song lại quá đầy, thậm chí hơi có vẻ sưng tấy, Lệ Đường bên trái trông thấp và tối hơn bên phải, chứng tỏ sau khi kết hôn hiếm muộn con cái, hơn nữa còn rất khó sinh được con trai. Sái Tiêu dắt theo một bầy trẻ con mãi võ sinh nhai, song mấy đứa bé trai không có đứa nào giống ông ta, chắc đều không phải con đẻ, như vậy việc Sái Tiêu chỉ sinh được con gái, không sinh được con trai đã hai năm rõ mười. Không có nam đinh, vào thời bấy giờ không khác gì tuyệt tự, nói năng cần phải hết sức né tránh.

Lục Kiều Kiều mời người ta vào quán uống trà, câu chuyện dĩ nhiên phải do cô mở lời trước. Màn mở đầu ban nãy đã rất tuyệt, lúc này cô chỉ cần thừa thắng xông lên.

“Sái sư phụ, xin hỏi ngài năm nay được bao nhiêu xuân thu rồi ạ?”

“Bốn mươi hai, sao vậy?”

Lục Kiều Kiều nhìn Sái Tiêu với ánh mắt hiếu kỳ, nói: “Linh Hư đạo trưởng bảo tôi hỏi xem có phải năm ngài hai mươi tám tuổi, ngài đã mất một người anh em?”

Sái Tiêu nói: “Đúng rồi.”

Lục Kiều Kiều lại nói: “Vợ ngài rất dữ dằn, ngài phải ở rể nhà vợ, mãi không có con trai, con gái cũng chỉ có một hoặc hai đứa mà thôi.”

Sái Tiêu có vẻ ngượng ngùng, nói: “Vâng, đúng là như vậy, tôi chỉ có một đứa con gái mà thôi.” Nói đoạn liền đưa mắt nhìn lũ trẻ dưới lầu.

Lục Kiều Kiều cũng để ý xem tình hình dưới lầu ra sao, vừa vặn trông thấy lũ trẻ nhận được bánh, đang cười hỉ hả chia nhau. Quả nhiên, thằng bé tóc vàng đã nhường bánh củ cải cho hai đứa còn lại. Đứa bé gái múa roi chín đốt chạy tới bên thằng bé tóc vàng, bẻ một nửa chiếc bánh đường trắng cho nó, khiến bọn trẻ tha hồ chế giễu. Thằng bé tóc vàng hết sức ngượng ngùng, đùn đẩy mãi không chịu nhận, thẹn đỏ cả mặt, đành ngồi trơ ra đó để những đứa trẻ khác trêu đùa.

Đứa bé gái chìa chiếc bánh đường có khuôn mặt bầu bĩnh đáng yêu, mặt tròn, mắt to trông nhang nhác Sái Tiêu, có lẽ là con gái ông ta, đang chạy đuổi đánh hai thằng bé trêu nó.

Lục Kiều Kiều sau khi trông thấy cảnh tượng muốn thấy, liền gọi tiểu nhị tới, dặn tiếp tục đưa xuống sáu chiếc bánh bao xá xíu cho bọn trẻ, lần này mỗi đứa đều được một chiếc bánh to, cô muốn xem cách ăn uống của thằng bé tóc vàng.

Sái Tiêu nói: “Cô nương nói gì cũng đúng, song đây đều là những việc người trong làng biết cả, cô có thể nói xem mấy ngày hôm nay đã có chuyện gì xảy ra với tôi không?”

Sái Tiêu mới dứt lời, tiểu nhị vừa đưa siêu nước nóng tới, mở nắm ấm trà ra châm thêm nước.

Có người hỏi việc, lại có người vừa tới cho biết động tượng, vừa khéo có thể vận dụng Mai Hoa dịch số. Ấm trà thuộc quẻ Đoài, quẻ Đoài tượng trưng cho việc mừng, ấm trà châm thêm nước chính là tượng tăng tài tiến lộc. Tiểu nhị đứng ở cung quẻ Khôn hướng Tây Nam cái bàn, sau khi châm nước liền rời đi, song đứng không vững, chân vấp vào bàn khiến bàn hơi rung, tượng này ứng với việc gia trạch không yên, hướng Tây Nam có tổn hại. Lục Kiều Kiều đã vận dụng Mai Hoa dịch số đến độ xuất quỷ nhập thần, việc nhỏ này không làm khó được cô.

“Sái sư phụ, ngài vẫn băn khoăn phải không? Linh Hư đạo trưởng sớm biết ngài sẽ hỏi như vậy. Đạo trưởng bảo tôi, mấy hôm rồi ngài vừa có một khoản tiền, có điều bức tường phía Tây Nam ở nhà bị đổ rồi.”

“Tường đổ đè lên thứ gì?” Sái Tiêu lập tức truy hỏi.

“Ôi dào, đè lên nhà xí, khiến cả căn nhà vừa khai vừa thối.” Lục Kiều Kiều cười hì hì đáp. Kỳ thực nhà cửa ở nông thôn thời xưa, cống thoát nước đều ở phía Tây Nam, nhà xí đương nhiên là ở đó rồi.

“Đúng là thần tiên sống! Sái mỗ khâm phục!” Sái Tiêu đã hoàn toàn tin tưởng vào tiểu cô nương này.

“Mấy bữa trước tôi đánh bài Thiên Cửu, ngồi ăn liền chín ván, cả đời tôi chưa từng đỏ đến như vậy, đánh một đêm thắng được mười mấy lạng bạc. Chuyện cái nhà xí cũng đúng nốt, tường đổ làm vỡ cả cái hố xí, giờ vẫn chưa sửa được. Đạo trưởng quả là cao nhân, nào nào, để Sái mỗ rót trà cho cô nương!”

Sái Tiêu vội ân cần rót trà cho Lục Kiều Kiều. Lục Kiều Kiều làm dáng, mỉm cười cầm chiếc quạt tròn che khuôn miệng anh đào, ra vẻ bẽn lẽn thẹn thùng lắm. Lần này, đến lượt Sái Tiêu cuống lên, sốt sắng hỏi ngay: “Cô nương này, đạo trưởng bảo tôi sắp gặp họa sát thân phải không? Ngài có nói là việc gì không?”

Lục Kiều Kiều không vội trả lời, cô đang mải quan sát lũ trẻ dưới lầu ăn bánh bao xá xíu. Mục tiêu của Lục Kiều Kiều không phải ba đứa con gái, cô chỉ nhìn tới ba thằng con trai. Thằng bé xinh xắn mặc bộ đồ màu đen vừa ăn vừa chơi, sờ cái nọ với cái kia, những đứa xung quanh nó đều chẳng được yên thân. Đôi mắt nó đảo tròn nhìn quanh, dạng này tâm trí bất định, không phải người Lục Kiều Kiều cần. Thằng béo thì lại béo quá, không phải Lục Kiều Kiều ghét thằng béo ấy, nhưng người cô muốn tìm không thể béo, còn cách ăn uống thế nào thì thoải mái.

Thằng bé tóc vàng cầm bánh bao lật ngược lại như thể bưng bát, ăn từng miếng nhỏ, như vậy nhân thịt trong bánh không rơi xuống đất chút nào. Mắt nó nhìn chăm chăm xuống mặt đất trước mặt, không chủ động đùa nghịch với những đứa trẻ khác. Lục Kiều Kiều rất hài lòng với lối ăn uống như vậy, cô cần một đứa có tính cách này. Biết nghe lời, không sinh sự.

Lục Kiều Kiều nhìn bọn trẻ ăn xong, quay đầu lại nói với Sái Tiêu: “Dạ vâng, đạo trưởng đã nói, thân phụ ngài vốn dĩ không đáng mất sớm như vậy, song bên ngài có sao Bạch Hổ chiếu, năm nay lại phạm Thái Tuế xông Bạch Hổ, sao Bạch Hổ phát tác, làm tổn hại đến con người. Cha ngài nếu gắng gượng được qua mùa thu năm nay thì sẽ vô sự, tiếc rằng lại khắc với sao Bạch Hổ nên không qua nổi tiết Trung Thu. Sao Bạch Hổ xét theo ngũ hành thì thuộc Kim, đến mùa thu càng hung hãn hơn, người ta vẫn nói “kim thu” là vì thế, đến lúc ấy, không chỉ có ông cụ chết vì xung khắc thôi đâu… giờ đã sắp tháng Tám rồi, ngài là chủ nhà, nội trong ba bảy hăm mốt ngày, e khó tránh khỏi đại nạn…”

Sái Tiêu ngồi thần ra tại chỗ, toát mồ hôi đầm đìa.

Lục Kiều Kiều thấy vậy, trong lòng hết sức vui mừng, nói nhăng nói cuội so với việc tính toán kỹ lưỡng thì nhàn hạ hơn nhiều. Cô lại chỉ xuống dưới hỏi: “Mấy đứa bé trai dưới lầu có phải họ hàng thân thích của ngài không?”

Sái Tiêu nói: “Thằng béo là người làng, bố nó chết vì bệnh đậu mùa, mẹ nó dẫn theo nó cũng chẳng có cách nào, đành để nó tới chỗ tôi kiếm bát cơm ăn. Thằng áo đen là thằng tôi bỏ tiền mua về, bố nó đánh bạc thua sạch, phải bán con trả nợ, nó cũng giống bố nó, cả ngày chẳng lúc nào đứng đắn. Thằng tóc vàng thì được tôi nhận về hồi bọn quỷ Hồng Mao đánh Quảng Châu mấy năm trước. Bố mẹ nó bị giết chết cả, nó một thân một mình đi khắp nơi ăn xin, khi tôi mở gánh mãi võ, trông thấy nó nhặt đồ ăn trên đường, thắng bé có bảy tám tuổi mà phải đi ăn mày như vậy kể cũng thật đáng thương, thế là tôi giữ nó lại trong gánh mãi võ, cho nó học ít công phu kiếm miếng cơm ăn… bọn chúng nó là sao Bạch Hổ à?”

Lục Kiều Kiều tỏ vẻ nghiêm túc nhìn xuống dưới lầu, sau đó quay lại nhìn vào mắt của Sái Tiêu, nói vẻ thâm trầm: “Sao Bạch Hổ chính là đứa bé tóc vàng.”

Lục Kiều Kiều lại dấn thêm một bước, nói ra nhận xét của mình: “Thằng nhóc này cao số, mệnh Bạch Hổ trên thì húc cho rơi, dưới thì đạp cho rụng, tức là già trẻ lớn bé quanh nó đều phải chết hết, nó mới sống được. Sao Bạch Hổ cứ bốn năm khắc một lần, lần trước đã khắc bố mẹ nó, giờ lại đến kỳ hạn bốn năm, đã bắt đầu phát tác rồi, Sái sư phụ cứ nhìn mái tóc vàng của nó là biết nó không phải người bình thường, thật sự rất nguy hiểm đấy…”

Sái Tiêu cũng nhìn lũ trẻ dưới lầu hồi lâu, đoạn thở dái nói: “Tôi đâu thể đuổi nó đi được, nói gì thì nói cũng đã ở chung mấy năm, dạy nó đâu ít thứ, nó là đứa ngoan ngoãn, làm việc hay luyện công đều chăm chỉ nhanh nhẹn… Vả lại trong gánh mãi võ, nó cũng là đứa giỏi kiếm tiền.”

“Cha ngài cũng bị nó khắc cho chết rồi, ngài không nên vì mấy chục đồng mà không tiếc tính mạng như vậy, Sái sư phụ…”

“Ài, đuổi thằng bé đi, tôi làm sao nỡ nói…” Sái Tiêu cau mày, vẻ mặt đau khổ, qua lời nói có thể thấy ông ta cũng là người lương thiện.

Lục Kiều Kiều có cách riêng để đối phó với người tốt, cô bảo Sái Tiêu:

“Sái sư phụ, sao Bạch Hổ cao số, song không cao hơn pháp thuật của sư phụ tôi. Thế này đi, tôi sẽ đưa cái tai vạ này lên núi, trên núi có sư phụ tôi trấn yểm nó sẽ không phát tác được nữa, cũng coi như cho nó một con đường sống.”

Cô ngừng lại nhìn Sái Tiêu, thấy vẻ mặt Sái Tiêu vẫn khó coi, bèn cười nói: “Sái sư phụ nuôi cái tai vạ này cũng mấy năm rồi, cơm áo gạo tiền bỏ ra cũng không ít, chúng tôi thu nhận nó, sẽ trả cho Sái sư phụ một cái hồng bao, lại tặng thêm ngài một đạo bùa linh hóa sát, vừa giải sao xấu vừa giúp ngài phát tài vượng khí, bảo đảm nửa đời sau ngài sẽ liên tục gặp phúc may.” Nói đoạn liền moi từ túi áo trong ra một tờ ngân phiếu năm lạng, đưa cho Sái Tiêu. Tờ ngân phiếu là phiếu do Nhật Thăng tiền trang ở Sơn Tây phát hành đã lâu năm, thương hiệu cũ uy tín lớn, chất bạc tốt, còn đảm bảo hoàn đủ tiền. Sái Tiêu cũng là người biết hàng, nhìn thấy ngân phiếu liền mừng rơn, vội đồng ý ngay. Ông ta mở gánh mãi võ, toàn thu về tiền lẻ, một tháng cũng chẳng kiếm nổi năm lạng bạc, lại phải nuôi một đống người. Người ta nói của đi thay người, lần này ông ta vừa được của vừa trừ tai, đâu có chuyện không mừng cho được. Lục Kiều Kiều cũng rất hoan hỉ, chỉ hiềm chưa chạy được ngay ra ngoài cửa Nam cười lớn ba tiếng, có điều lúc này không thể lộ nụ cười ra mặt, đành phải cố nuốt xuống.

Giờ một đứa bé mấy tuổi cũng phải mười lạng bạc, đứa biết làm lụng lại có sức khỏe càng đắt, từ mười mấy lạng đến mươi lạng vẫn còn là được giá. Vậy mà lần này chỉ cần năm lạng bạc đã mua được một đứa bé trai dễ sai dễ bảo, nếu không phải bản thân đang cần dùng người, bán qua tay vẫn kiếm được khối tiền.

Lục Kiều Kiều lại moi trong túi thơm ra một đạo bùa giấy vàng gấp thành hình tam giác, hỏi trà lầu xin một cái hồng bao, bỏ ngân phiếu và bùa vào, trao vào tay Sái Tiêu.

Sái Tiêu vui mừng nói: “Chao ôi, cảm ơn cô nương quá. À không phải, cảm tạ ơn cứu mạng của đạo trưởng… À không phải, đa tạ đạo trưởng và đa tạ cô nương, khà khà…”

Năm lạng bạc này là chút báo đáp của Lục Kiều Kiều dành cho người tốt bụng, nếu bản thân ông ta vì lòng ích kỷ mà đuổi đứa trẻ đi, thì một xu cũng đừng hòng lấy lại được.

Hai người giao dịch hoàn tất, cùng xuống dưới lầu, sắc trời đã bắt đầu sẩm tối.

Sái Tiêu tới trước mặt lũ trẻ, dẫn thằng bé tóc vàng lại bên Lục Kiều Kiều, xoa tóc thằng bé nói: “Này Hoàng Mao, con thu dọn đồ đạc rồi đi theo chị này ngay hôm nay đi, Sái thúc không nuôi nổi con nữa, sau này con cũng đừng trở lại đây, phải nghe lời chị đấy!”

Thằng bé tóc vàng sững sờ, ngẩng mặt lên nhìn.

Đêm hôm đó, Lục Kiều Kiều đặt tên cho thằng bé tóc vàng là An Long Nhi.

Sáng sớm hôm sau, Lục Kiều Kiều thức dậy, hút xong hai cữ thuốc, đã cơn nghiền, liền bôi son trát một lớp phấn thật dày, vận chiếc áo khoác màu lục thêu hoa đỏ sẫm, tinh thần lâng lâng, dắt An Long Nhi ra khỏi nhà. An Long Nhi đi theo sau Lục Kiều Kiều, một tay xách một chiếc làn, trong làn có ấm trà và chén trà, hạt dưa, hoa quả, tay kia giương chiếc ô tây che cho Lục Kiều Kiều.

Lục Kiều Kiều không quay đầu lại, hỏi thằng bé: “Có nhớ tên mình giờ là gì không?”

An Long Nhi trả lời: “Dạ nhớ. Là An Long Nhi.”

Lục Kiều Kiều lại hỏi: “Có nhớ mình là ai không?”

An Long Nhi trả lời: “Cháu là cháu cô, cô là cô cháu.”

“Cô là thế nào?” Đồ đạc đều nằm trong tay An Long Nhi, Lục Kiều Kiều chỉ cầm chiếc quạt tròn bằng the mỏng và một chiếc túi thơm, xưa nay cô chưa từng được rảnh tay như vậy bao giờ, nên tâm trạng rất phấn khởi.

“Cô tức là em ruột của bố cháu.” An Long Nhi theo sau Lục Kiều Kiều, tò mò quan sát đường phố Tây Quan.

An Long Nhi theo Sái Tiêu mãi võ, chỉ ra vào phía Đông thành Quảng Châu, chưa từng đến Tây thành, hằng ngày ra khỏi nhà, đi qua đi lại cũng chỉ có mười tám cái chợ thường đến, gặp ngày mưa không mở gánh thì một tháng cũng ra khỏi nhà tầm hai mươi ngày, đã quen nhìn dân cư thật thà cục mịch và quân doanh quan phủ ở phía Đông thành, giờ mới biết Tây thành còn có ngõ liễu tường hoa lòe loẹt xanh đỏ, và rất nhiều cô gái xinh đẹp hiếm khi được gặp ở Đông thành, nó trông đến hoa cả mắt.

Lục Kiều Kiều như thường ngày, hễ ra khỏi cửa là đi tới ven đầm Bạch Nga. Cô đến chỗ thuyền hoa xếp hàng rợp mắt ở ven sông, đi ra chỗ gốc cây đa có nhiều chị làm thuê, ở đợ đang tụ tập. Những người này đều làm thuê ở các chốn phong nguyệt, Lục Kiều Kiều rất quen thuộc với họ. Những người làm công này khác hẳn người làm công trong các nhà phú hộ. Người làm công trong nhà phú hộ đều là hạng ăn lương, còn những chị những bà giúp việc ở chốn phong nguyệt lại là chủ bé, góp vốn với chủ lớn mở thuyền hoa hoặc kỹ viện, họ rất thân với đám kỹ nữ, một mặt chăm lo việc ăn uống vệ sinh của khách, một mặt giao dịch ngầm cho đám kỹ nữ, ở giữa ăn hoa hồng, chia chác với chủ lớn.

Mỗi sáng, đám người làm công này đều đi chợ mua thức ăn, sau đó tranh thủ chút thì giờ rảnh rỗi túm tụm lại ven sông trò chuyện, trao đổi thông tin hành lang. Họ là những người nắm rõ nhất mọi tình huống ở chốn phong hoa tuyết nguyệt này, cô nào không thu được tiền, khách nào có bệnh hoa liễu, nội trong một ngày đều sẽ phát tán đi từ nơi đây.

Lục Kiều Kiều có mối làm ăn với họ, mỗi sáng cô đều đảo qua đây, các bà các chị sẽ giới thiệu các cô kỹ nữ muốn xem số mạng cho Lục Kiều Kiều, còn Lục Kiều Kiều sẽ trả tiền hoa hồng cho bọn họ. Vì danh tiếng của Tiểu Thần Bà Lục Kiều Kiều trong giới phong nguyệt cũng khá nổi, còn đến tận nơi phục vụ từng người, đương nhiên chi phí đắt đỏ, song khi trả tiền hoa hồng lại thoải mái xông xênh, các chị làm công đều rất thích qua lại với cô.

Đám làm công đang ở bên đó chụm đầu chuyện trò sôi nổi, chỉ thấy làn đi chợ nằm chỏng chơ dưới gốc cây đa, mấy chục người đàn bà quây thành một vòng ríu ra ríu rít. Lục Kiều Kiều bảo An Long Nhi ngồi ở bên ngoài đợi, rồi tự mình bước đến lanh chanh nói theo.

Cô tự rót trà cho mình, đi lại chỗ đám đàn bà. Lục Kiều Kiều thân hình nhỏ nhắn, đứng ở sau lưng mấy bà mấy chị chẳng nhìn thấy gì cả, bèn chen vào chính giữa, chống nạnh cùng mọi người nghe một bà chị béo tốt lớn tiếng kể:

“Bỗng ‘tùm’ một tiếng có tiếng nhảy xuống sông, chúng tôi hãi quá, vội lao ra cứu người. Người đàn ông đến cùng vị khách đó và đầu bếp trên thuyền của chúng tôi đều nhảy xuống sông định cứu ông ta lên, song mò mãi không thấy đâu. Người nhảy xuống sông cứ như tảng đá lớn, cứ chìm nghỉm xuống dưới, chẳng có bong bóng nước gì nổi lên, đúng là quỷ quái.”

“Bấy giờ là nửa đêm, thuyền ở giữa dòng, đang định quay về bờ bên này…”

“Nếu ông ta đến chơi một mình, lại nhảy từ thuyền của chúng tôi xuống sông chết đuối, chúng tôi chắc chết cả nút, loại người lắm tiền này mà chết, chúng tôi có chết mười lần cũng không đền nổi, may mà có người đi cùng, có thể làm chứng chúng tôi không giết người, bằng không dẫu nói thế nào cũng chẳng xuôi, chúng tôi chắc chắn sẽ bị phán là giết người cướp của, bị chém đầu hết…”

Có chị còm nhom hỏi chị béo: “Liệu có phải nghĩ không thông không, chứ vô duyên vô cớ ai lại làm thế? Thật là kỳ quái.”

Chị béo nói: “Đang uống rượu thì ông ấy đột nhiên giở trò, hất tung hai cái bàn, còn gào lên bảo muốn giết người, rồi đánh người loạn cả lên, lại muốn tìm đao, chúng tôi tưởng ông ta uống rượu say nên phát cuồng, bèn sai người giữ chặt ông ấy lại rồi đưa thuyền về đầm Bạch Nga, nhưng ông ta còn cắn người nữa chứ lị, có người bị ông ta cắn đứt nửa miếng thịt trên tay, ông ta giằng khỏi những người khác, cứ thế đâm đầu nhảy xuống dòng Châu Giang…”

“Tối hôm kia, vừa lên bờ liền báo quan ngay, nhưng hôm qua quan phủ chỉ sai người đến hỏi một lần, đến giờ vẫn không quay lại.” Các bà chị mồm năm miệng mười bàn tán về việc này, đều nói rằng người đó phát rồ phát dại rồi.

Lục Kiều Kiều lấy làm kỳ quái, sao chuyện Đặng Nghiêu kể cho cô nghe lại xảy ra đồng thời cùng chuyện này vậy.

Lục Kiều Kiều cũng xen vào hỏi chị béo: “Người nhảy sông chết đuối là ai vậy? Có phải khách quen không?”

Chị béo nói: “Không hẳn khách quen, song cũng đến thuyền chúng tôi dăm ba lần, là cái tay buôn đồ hải sản, họ Quách, vẫn gọi là ông chủ Quách.”

“Cũng họ Quách?” Lục Kiều Kiều thấy ớn lạnh trong lòng.

Hiếu kỳ là đức tính quan trọng nhất của người theo Đạo thuật, ai học Đạo thuật đều hiếu kỳ gấp trăm gấp chục lần người bình thường, sẵn sàng trả mọi giá để thỏa mãn lòng hiếu kỳ của mình.

Khi biết người khách làng chơi nhảy xuống dòng Châu Giang tự sát cũng họ Quách, lòng hiếu kỳ của Lục Kiều Kiều theo lệ lại trỗi dậy mạnh mẽ. Cô chen ra khỏi đám các bà chị, nói với An Long Nhi: “Nhóc con thật tốt số, vừa đến nhà cô đã có kịch hay để xem. Đi theo cô, cô dẫn mày đi xem phong thủy.”

Nói đoạn, cô liền gọi một chiếc xe kéo, chạy thẳng đến căn hung trạch có Quách đại nhân tự sát ở phường Giáp Công. Xe dừng lại trước ngõ phường Giáp Công, vừa đi vào ngõ, Lục Kiều Kiều vừa giảng cho An Long Nhi: “Mỗi một nơi, mỗi một con phố, mỗi một căn nhà đều là cơ thể sống, đều có vận khí riêng, có tốt, có xấu.”

“Cái ngõ này vận khí không tốt, có thể thấy ngay từ cánh cổng ở đầu ngõ, đôn đá tròn dưới hai cột trụ đã đen từ dưới đen lên kìa.”

Lục Kiều Kiều lại chỉ xuống mặt đất nói: “Giữa con đường lát đá cũng có một dòng khí đen chạy từ đầu tới đuôi, đó là bởi ngõ này vận khí yếu ớt, dương khí không đủ, sống trong ngõ, người vượng nhất cũng như người yếu nhất đều có thể vì vậy mà gặp chuyện.”

An Long Nhi không hiểu cho lắm, liền nói: “Cô Kiều, vì sao người vượng nhất cũng có chuyện?”

“Độc dương bất sinh, cô âm bất trưởng, việc gì thái quá đều sẽ chạy về cực bên kia. Cũng như thời tiết vậy, sau khi nóng hầm hập sẽ đổ mưa, người có vận khí quá vượng có thể sẽ đột tử, nếu không sẽ khiến người quanh thân mình liên tục gặp chuyện, cái gọi là ‘Dương tận Âm sinh’ cũng chính là ý này.” Lục Kiều Kiều vừa chuyện trò với An Long Nhi, vừa ngó nghiêng xem cổng nhà dân ở hai bên phường Giáp Công.

Lục Kiều Kiều bước tới trước một cổng lớn khóa chặt, bảo An Long Nhi: “Đây chính là nhà của Quách đại nhân.”

“Ở đây có rất nhiều hộ giàu có, sao cô lại biết là nhà này?” Thấy khó hiểu, An Long Nhi liền hỏi.

“Bởi trước cửa đã viết kìa…” Lục Kiều Kiều nhìn hai con sư tử nhỏ ở trước cửa.

Cô gọi An Long Nhi lại nói: “Mày xem trên đầu con sư tử đá ở bên trái có vết mốc trông như đốm đen, lại ở bên phải gáy nó. Căn nhà này tọa Nam hướng Bắc, gáy bên phải của con sư tử nằm hướng Nam chính là cung Càn ở phía Tây Bắc, Càn là cha, con sư tử bên trái là vị trí Thanh Long, tượng trưng cho đàn ông, nhà này nếu xảy ra sự cố đều nhằm vào nam đinh.”

An Long Nhi gật đầu, song vẫn còn lơ mơ.

“Song cũng không đến nỗi phát rồ lên giết người nghiêm trọng như thế chứ…” Lục Kiều Kiều lẩm bẩm, đứng trước cổng nhà họ Quách, xem xét bốn phía chung quanh.

Chợt Lục Kiều Kiều nhìn thấy trên khung cửa một nhà ở ngõ đối diện chếch bên phải có một tấm gương Bát Quái to như cái đĩa đựng nước mắm chiếu vào cửa nhà họ Quách.

Cô bước tới xem kỹ tấm gương. Loại gương Bát Quái này đầu đường cuối phố đâu cũng bán, là thứ vật dụng trấn yểm rất phổ biến. Tấm gương này dường như vừa mới đặt cách đây không lâu, không đóng đinh trên xà ngang, mà lại dùng dây đồng treo dưới mái hiên một cách cẩu thả, tấm gương vừa vặn chĩa vào cổng lớn của nhà họ Quách, trông hơi lệch, thực ra là phương hướng cố định được cố ý chỉnh bằng dây đồng.

Lục Kiều Kiều thấy trong nhà có người, liền gọi vọng vào. Một bà già hơn sáu mươi tuổi bước ra.

Lục Kiều Kiều hỏi bà già xem tấm gương này có phải do nhà họ tự treo không, bà già bảo không biết việc này, nhà họ từ trước tới nay chưa hề treo gương.

Hỏi thăm bà ta xong, Lục Kiều Kiều liền bảo An Long Nhi trèo lên gỡ tấm gương xuống.

Lục Kiều Kiều cầm gương trong tay, lật lại xem mặt sau. Ở mặt sau tấm gương có một số vòng tròn nhỏ được vẽ từ những đường cong liên tiếp bằng chu sa màu đỏ sậm, tạo thành chuỗi ký hiệu kỳ quái.

Lục Kiều Kiều nhận ra đây là sát cục phong thủy, được gọi là… Quỷ kính chiếu đường. Cô lập tức ý thức được rằng, có người tinh thông phong thủy đang giết người, vả lại còn xuống tay rất nặng. Bản thân cô không có ân oán gì trong đám giang hồ, không cần thiết phải chuốc việc vào người, nên vội vã quay ra, dắt An Long Nhi rời khỏi phường Giáp Công.

Cuối ngõ phường Giáp Công, có người đàn ông tựa vào gốc cây bạch lan, lấy chiếc mũ cỏ nát che mặt như nằm ngủ, song ánh mắt lạnh buốt lộ ra từ kẽ hở trên mũ lại đang dõi theo bóng Lục Kiều Kiều bỏ đi.

“Giở trò quỷ gì vậy, Quỷ kính chiếu đường, khiến cả thành nghiêng ngả như thế này.” Một giọng trầm đục, cất lên đầy tức tối.

Kẻ nói lời này là một gã đàn ông cao to, nuôi một chòm râu dê dưới cằm, trong mặc áo dài ngoài khoác áo chẽn ngắn, cầm chiếc quạt gấp trong tay, thắt lưng đeo túi, ăn vận kiểu thương nhân. Kỳ thực, hắn chính là Phó sứ Chương Bỉnh Hàm của phủ Quốc sư.

Hắn đứng trên một ngọn đồi, hướng về phía ngôi mộ tọa Nam hướng Bắc, trên bia mộ khắc dòng chữ “Quách công Thủ Thành chi mộ”. Sau lưng có bốn người đàn ông khác cũng ăn vận cùng một kiểu thương nhân.

Chương Bỉnh Hàm nói tiếp: “Đúng là việc công phải làm, thiên hạ phải giữ, song các ngươi làm kín kín một chút không được à? Dùng gì không dùng, lại dùng sát cục Quỷ kính chiếu đường, khiến người ta nổi điên lên? Hử?”

Trong số bốn kẻ bị mắng, có một kẻ trả lời: “Giờ là tháng Bảy, dùng Quỷ Kim Dương thoái thần chiếu sát của tháng trước thì hiệu nghiệm rất nhanh… ngài cũng đâu có nói phải dùng sát cục gì…”

Chưa nói hết câu, Chương Bỉnh Hàm chẳng thèm ngoảnh đầu, trở tay tát thẳng vào mặt tên vừa trả lời đánh “bốp” một tiếng.

Hắn phồng mồm trợn mắt quay lại, đối diện với tên kia, nói mà nước bọt bắn phèo phèo vào mặt đối phương: “Bốn hộ họ Quách ở trấn Bảo Điền, phát điên giết nhau trong tiệc đầy tháng, làm cả trấn rúng động, hai anh em họ Quách làm ăn trong thành, giết người như hóa dại, máu me lênh láng, kinh động toàn thành. Giờ dẹp sạch dưới quê, dẹp sạch trong thành, có muốn ta dẹp luôn cả đầu mày không hả?”

Chương Bỉnh Hàm khua tay vạch một nhát lên cổ tên kia, khiến hắn khiếp vía, run bần bật.

Tất cả im lặng phăng phắc. Một lúc sau, Chương Bỉnh Hàm mới sa sầm nét mặt nói với bốn tên kia: “Vụ việc lần này, ta đã thu xếp chỗ quan phủ rồi. Từ rày trở đi dùng cách gì cũng phải thông qua cửa của ta đã!”

Nói đoạn phẩy mạnh ống tay áo, quay người xuống núi. Bốn tên bị chửi vâng vâng dạ dạ bám theo sau. Chương Bỉnh Hàm đột ngột quay phắt lại, lớn tiếng quát chúng: “Đi theo ta làm gì? Gỡ cái gương Quỷ kính chiếu đường mang đi ngay, đừng để dân chúng nhặt được lại làm tin đồn lan đi khắp nơi, khốn nạn! Toàn một lũ khốn nạn! Quanh đồi đâu cũng thấy mả…”

Tối đến, Lục Kiều Kiều vẫn nằm trên giường trúc bên giếng trời hút thuốc, giờ đã có An Long Nhi rót trà châm thuốc, cô càng hút càng đậm đà. Thuốc phiện có mùi hương rất đượm, loại thuốc Vân Nam Lục Kiều Kiều hút lại là loại thượng phẩm trong nước, mùi vị càng xa càng rịn, nếu không có mùi thuốc đậm đặc hơn từ quán Vạn Hoa bên cạnh, mấy hộ xung quanh chắc chắn sẽ biết Lục Kiều Kiều tối nào cũng hút đã thuốc phiện trong nhà.

Cô nói nhát gừng với An Long Nhi: “Quỷ kính chiếu đường là thứ tà môn trong phong thủy Thiên Tinh. Thuật phong thủy vốn dĩ cũng giống như tiền, không phân tốt xấu, chỉ xem xem mình dùng nó vào việc chính hay việc tà.”

An Long Nhi đến ở với Lục Kiều Kiều mấy hôm, ngày nào cũng gặp những điều mới lạ, Lục Kiều Kiều nói với thằng bé câu gì, nó đều cố gắng ghi nhớ.

“Những hình vẽ ở mặt sau tấm gương là bùa chú Quỷ Kim Dương, trên trời có nhị thập bát tú, Quỷ Kim Dương là một tinh tú trong số đó, là chủ tinh của tháng trước. GIờ mày chưa hiểu, sau rồi sẽ hiểu.” Lục Kiều Kiều nói với giọng trễ nải, khiến An Long Nhi cảm thấy rất dễ chịu.

“Chỉ treo gương không thôi cũng chẳng có tác dụng gì, song mặt sau lại dùng chu sa vẽ bùa chú thì nguy hại lắm…”

An Long Nhi lắng tai nghe, không nói một lời.

“Vả lại…” Đang giảng giải, Lục Kiều Kiều chợt chống người dậy, buông thõng một câu “Xem có còn rượu không, rót cho cô một chén…” đoạn lại đổ kềnh xuống giường.

“Vả lại cái gương này được đặt vào vị trí dữ nhất trong tháng này, ấy là vị Quỷ Kim Dương hướng Tây Nam. Bùa và gương, phương vị và thời giờ phối hợp chuẩn xác, cùng lúc phát ra hung lực rút khí, vậy nên trong phút chốc Quách đại nhân đã mất mạng.”

An Long Nhi rót cho Lục Kiều Kiều một chén rượu cao lương, còn bày lên một đĩa mì rán dầu với tai lợn kiểu Quảng Châu.

“Có điều…có điều cũng không nên lấy mạng trẻ con… đến trẻ con cũng không thoát được chứng tỏ mộ tổ bị vỡ rồi, có người muốn Quách đại nhân phải tuyệt tử tuyệt tôn…” Lục Kiều Kiều hút thuốc, uống rượu, mỗi lúc một mơ màng, song miệng vẫn lẩm bẩm nói: “Lại còn cả ông chủ Quách nhảy xuống Châu Giang tự sát nữa… có lẽ là người có cùng mộ tổ… cả họ chết sạch…”

Lục Kiều Kiều nói xong, mơ màng ngủ thiếp đi.

An Long Nhi thấy Lục Kiều Kiều đã ngủ, liền ngồi dưới ánh trăng ngắm khuôn mặt cô một lúc, sau đó thu dọn tẩu thuốc và chén rượu, vào phòng lấy ra một tấm chăn mỏng đắp lên người Lục Kiều Kiều.

Đã đến thời kỳ an toàn của Lục Kiều Kiều, trong cữ thuốc buổi sáng, cô tự bói cho mình một quẻ.

Sống ở đời ai cũng muốn có chút mới mẻ và bất ngờ, có những việc không muốn biết kết quả, dĩ nhiên có thể phó mặc cho trời, đi bước nào hay bước ấy, miễn là có khả năng gánh chịu là được; song cũng có việc muốn biết trước kết quả, bói một quẻ đề phòng bất trắc. Ví như hôm nay, cần phải đảm bảo không chút sơ sảy.

Chiếc cốc chứa mấy đồng tiền đồng kêu leng keng một tiếng, úp xuống trà kỷ, sáu đồng tiền sắp thành quẻ Hàm, Lục Kiều Kiều cười nhạt, nghĩ bụng: Quẻ tượng lợi tiểu nữ nhân, đại nữ nhân bị khắc bất lợi. Mình chỉ là tiểu nữ nhân mà thôi, đại nữ nhân phải chịu thiệt thòi một chút vậy.

Lục Kiều Kiều cài bông hoa màu đỏ nhạt lên đầu, ngồi trong phòng khách vừa bưng chén uống trà, vừa dạy bảo An Long Nhi đang đứng bên cạnh. Trên trà kỷ đặt một chiếc la bàn to cỡ bàn tay.

“Buổi sáng ngủ dậy không cần gánh nước, mày rất may mắn vì trong nhà có cái giếng, song hằng ngày phải bảo đảm trong chum có nước…”

“Sau khi dậy nhớ đun nước, pha nước ấm đợi cô rửa mặt, cô rửa mặt xong thì pha trà cho cô…”

“Uống trà xong cô phải hút thuốc, mày đứng bên cạnh hầu thuốc, rót nước thắp đèn là được, đừng có đi qua đi lại trước mặt cô, hoa mắt…”

“Ngày chẵn thì theo cô ra ngoài kiếm người, ngày lẻ thì mày ở nhà… hôm nay không tính, chốc nữa cô có việc…”

“Ban ngày mày ở nhà, không được ra khỏi cửa, đến trưa tự làm cơm mà ăn, nhưng không được ăn lạp xường trong bếp đâu đấy, chỉ được ăn chay, tối cô về mới được ăn thịt…”

“Lúc cô không có nhà phải quét dọn, đổ bô, giặt quần áo, mà phải đọc hết hòm sách kia nữa… Phải rồi, mày có biết chữ không?”

An Long Nhi đáp: “Đã học hai năm ở trường tư.”

“Nhà mày có tiền gớm, đi học ở trường tư cơ đấy…” Lục Kiều Kiều tiếp tục dặn dò: “Sách trong hòm gỗ kia cứ mỗi tháng phải xem một cuốn, năm ngày kiểm tra một lần, không trả lời được thì ngày hôm đó cắt cơm, bốn hôm sau đó, mỗi ngày chỉ được ăn một bát cơm trắng, không rau không thịt. Nếu ăn vụng, cô sẽ treo ngược mày lên đánh cho một trận rồi báo quan bắt nhốt vào tù…”

“Cuốn sách mỗi tháng đọc xong thì giao lại cho cô, kiểm tra lại một lượt, không đạt yêu cầu sẽ bị treo một ngày, đánh một trận, hai ngày không được ăn cơm…”

An Long Nhi nhớ ra ở góc tường trong gian phòng mé Tây có một hòm sách, thực ra cái hòm không lớn lắm, khiêng ra vừa khéo có thể làm ghế, ngồi được một người.

“Cô Kiều, những chỗ cháu không hiểu có thể hỏi cô không?” An Long Nhi hỏi.

Lục Kiều Kiều đặt chén trà xuống, gắt gỏng đáp: “Chữ nào không biết thì hỏi, nhưng đọc mà không hiểu câu có nghĩa gì thì đừng có làm phiền cô, mày cứ học thuộc lòng, đọc cho cô nghe là được.” Cô cầm cái la bàn trên trà kỷ lên, nói: “Trong hòm có một cuốn gọi là La Kinh giải định, xem xong cuốn đó có thể hiểu được cái la kinh[4] này.”

An Long Nhi thấy trên la kinh có mười mấy vòng khắc chữ và ký hiệu chằng chịt, đưa tay ra định đón lấy xem.

Lục Kiều Kiều giật ngay lại, hất hàm bảo An Long Nhi: “Mày chưa dùng được cái này, loại nhỏ này mày chưa đủ tư cách dùng. Trong phòng mé Tây có loại to, mày tự tìm lấy mà xem. Sau một năm, tức là Trung thu sang năm, sẽ kiểm tra về la kinh, nếu vẫn không biết xem, tao lập tức cho mày bán lợn đi Kim Sơn, đời này đừng mong quay lại tỉnh thành nữa…”

Hồi ấy ở Quảng Đông có rất nhiều người bán mình sang nước Mỹ khai phá miền Tây, có người đi đãi vàng, cũng có người đi làm đường sắt, kiểu bán mình đi làm cho Tây gọi là “bán lợn”. Bấy giờ cứ đi Mỹ đều gọi là đi Kim Sơn, các công nhân người Hoa sau khi “bán lợn đi Kim Sơn” gặp muôn vàn khổ nạn, mười phần đến tám chín là một đi không trở về. An Long Nhi không biết thế nào là bán lợn, song nếu cả đời này không được quay trở lại nữa thì chẳng phải việc tốt đẹp gì, thằng bé liền rụt hai tay lại, “vâng” một tiếng.

“Tối cô sẽ dắt mày đi chợ, mày có biết nấu cơm không? Thôi, khỏi cần đáp, biết hay không cũng vẫn phải nấu, bỏ cả đống tiền mua mày về, có tí việc vặt ấy cũng không làm được thì còn làm ăn gì…” Lục Kiều Kiều định ra khỏi nhà, bèn nói với An Long Nhi: “Giờ cô ra ngoài, khi cô về mày phải dọn nhà sạch sẽ rồi đấy!”

“Dạ vâng, thưa cô.” An Long Nhi đã sớm quen với việc bị sai bảo.

Sau khi ra khỏi nhà, cô tiện tay khóa luôn cửa từ phía ngoài. An Long Nhi quả nhiên lục thấy chiếc la kinh lớn trong căn buồng mé Tây. Chiếc la kinh tròn tròn dẹt dẹt, to cỡ vung nồi, trên bề mặt khắc đến ba mươi mấy vòng toàn chữ là chữ, nhiều hơn cái la kinh nhỏ Lục Kiều Kiều cầm trong tay nhiều.

Lục Kiều Kiều hôm nay không đi xem bói cho kỹ nữ, cô xách túi thơm, phe phẩy quạt the tròn, rời phố Bình Khang đi tới bên dòng Châu Giang, rẽ trái là phố lớn phồn hoa toàn những căn nhà kiểu Tây san sát một bên, gọi là Thập Tam Hàng. Cửa hàng cửa hiệu ở Thập Tam Hàng mọc lên như nấm, hằng ngày ngựa xe như nước, người qua kẻ lại tấp nập, các hãng buôn hàng xuất nhập khẩu phía Nam Trung Quốc đều tập trung ở đây, có thể nói là một trung tâm của cải chính cống.

Lục Kiều Kiều bước vào một cửa hiệu không lớn lắm, phía trên cửa có một biển hiệu, đề ba chữ “Ngũ Nhật Phát”.

Cửa hiệu có hai tầng, nhà xây cao, nên bước vào liền cảm thấy mát lạnh. Tầng một kê năm sáu chiếc bàn, ba nhân viên đang bận việc, song lại có vẻ ung dung nhàn hạ, rất không tương thích với không khí nhộn nhạo ngoài đường, một người đang dùng bàn tính, một người đang xem sách, còn có một ông già trông như chưởng quỹ đang tưới nước vào một bồn hoa. Vị chưởng quỹ già thấy Lục Kiều Kiều bước vào cửa, vội cất lời chào: “Lục tiểu thư đến rồi à, công tử đang ở trên lầu đấy.”

Lục Kiều Kiều gật đầu cười nói: “Phiền bác báo cho một tiếng được không ạ?”

Chưởng quỹ già ngẩng đầu gọi: “Ngũ công tử! Ngũ công tử!” Giọng nghe sang sảng.

Từ cầu thang lầu hai, một chàng trai mặc áo sơ mi trắng kiểu Tây bước xuống, trông chừng hơn hai mươi tuổi, vóc người trung bình, mặt mũi trắng trẻo, thoạt nhìn đã biết là con nhà giàu sang sống trong nhung lụa từ nhỏ. Anh ta là cậu chủ của cửa hàng này, tên Ngũ Tuấn Sinh. Để thực hiện nghiệp vụ xuất nhập khẩu, Ngũ Tuấn Sinh đã cùng ông chủ Ngũ Nhật Phát xuất dương hai lần, sau khi quay về nước liền thích mặc trang phục phương Tây. Thời gian ở cửa hàng, anh ta đều lấy danh nghĩa xúc tiến thương mại Hoa – Dương mà mặc bộ âu phục đem từ đế quốc Đại Anh về. Ngũ Tuấn Sinh vừa thấy Lục Kiều Kiều đã mừng ra mặt, vội chạy xuống cầu thang, vừa chạy vừa nói: “Lục tiểu thư đến rồi đấy à, dạo này làm ăn khá chứ?”

Lục Kiều Kiều mỉm cười, khẽ gật đầu đáp lời một cách rất tình tứ: “Chào công tử, nhờ phúc của công tử cả.”

“Xin mời Lục tiểu thư lên lầu bàn chuyện được không?” Ngũ Tuấn Sinh vồn vã nói.

Ngũ Tuấn Sinh lên lầu, bước vào một căn phòng. Ngũ Tuấn Sinh lập tức theo sau, đưa tay khóa cửa lại, tay kia đột nhiên ôm lấy eo Lục Kiều Kiều, quay người lại ghì Lục Kiều Kiều lên cửa.

“Kiều Kiều ơi, nhớ em chết mất, sao mãi chẳng thấy qua đây…” Ngũ Tuấn Sinh vừa thấp giọng thầm thì, vừa áp đầu vào cổ Lục Kiều Kiều, ra sức hít hà mùi hương trên cơ thể cô.

Lục Kiều Kiều ngoan ngoãn thả lỏng cơ thể, nghiêng đầu sang một bên, nhắm nghiền mắt, hổn hển “vâng” một tiếng thật dài đáp lại.

Ngũ Tuấn Sinh một tay vén vạt áo the màu lục dài tới gối của Lục Kiều Kiều lên, luồn vào lưng cô từ phía sau, sờ lên tấm lưng mịn màng, sau đó siết chặt lấy eo cô, khiến ngực cô áp chặt vào mình. Ngực Lục Kiều Kiều bị ép chặt, bất giác “ư” lên một tiếng. Tay kia của Ngũ Tuấn Sinh khe khẽ nâng đầu cô, định hôn lên đôi môi đang hé mở.

Lục Kiều Kiều mím chặt môi lại, quay mặt sang một bên, đưa mắt lườm Ngũ Tuấn Sinh: “Nhẹ nhàng một chút, quần áo mà rách em không ra khỏi cửa này được đâu. Buông tay ra đã nào…”

Từ tầng hai của cửa hàng Ngũ Nhật Phát có thể trông thấy đảo Sa Diện ở phía đối diện, đảo Sa Diện là cồn đất nhỏ trên dòng Châu Giang, sau này nơi đây sẽ trở thành tô giới của Anh Pháp. Cầu thang đi lên tầng hai có một hành lang, bên hành lang có ba căn phòng, đều là nơi ông chủ làm việc và nghỉ ngơi, ngày thường thương khách giao dịch và đàm phán dưới tầng một, chỉ có những khách quan trọng mới được tiếp đãi trên tầng hai. Căn phòng đầu tiên nhìn ra sông, là phòng sổ sách của ông chủ, có nhiều đồ gỗ được chạm trổ tinh tế, ngoài bàn làm việc lớn kê giữa phòng, góc tường còn có một chiếc giường lớn làm bằng gỗ trắc bóng loáng, làm chỗ hút thuốc phiện.

Hai cơ thể lõa lồ cuộn lấy nhau trên giường.

Cơ thể Lục Kiều Kiều nhỏ nhắn nhưng đẫy đà, toàn thân nhấp nhô như những đợt sóng, miệng khẽ kêu: “Nhẹ thôi… chậm thôi…” Ánh nắng rọi qua lớp cửa sổ pha lê sặc sỡ, đổ nghiêng lên người cô, lấp lánh theo từng nhịp rung của cơ thể.

Cơ thể được lấp đầy như sắp nở tung, từng tấc da thịt đều được một cơ thể khác bọc chặt lại, có vậy mới khiến cô có chút cảm giác an toàn, vững chắc, chỉ cần nhắm mắt lại, mọi việc dường như chưa từng xảy ra…

Bất kể Lục Kiều Kiều nằm sấp hay nằm nghiêng, hai tay cô đều ôm chặt lấy thân mình, không thể để cơ thể tổn thương thêm nữa, để linh hồn và xác thịt của cô vĩnh viễn rời xa nơi đó trong nhịp va chạm…

Lục Kiều Kiều nằm nghiêng trên giường, từ vai đến eo, từ hông đến gót, nối liền tạo thành một đường cong tuyệt mỹ. Người cô quấn một tấm khăn lụa hoa màu đỏ sậm, đây là món quà Ngũ Tuấn Sinh mang từ kinh thành về cho cô.

Lục Kiều Kiều hút thuốc, lặng lẽ nhắm nghiền mắt lại. Ngũ Tuấn Sinh áp vào người cô từ phía sau, dùng chân kẹp lấy chân cô, hôn lên cổ và tóc cô, bàn tay chậm rãi lướt trên vai, trên cổ, ngực và bụng cô.

Con tim Lục Kiều Kiều đang bay đến một nơi khác. Mở cửa sổ nhìn ra, con sông đó đẹp như dòng Châu Giang, cồn đất giữa con sông ấy cũng giống đảo Sa Diện, lặng lẽ nằm ở ven bờ… Ở đó có tòa nhà trên cồn đất, cũng như nơi này, có thể ngắm dòng sông trôi xa tít tắp đến chân trời, có bóng cò trắng bay từ đằng xa lại, có hai con người…

“Phong nguyệt vô biên, phong nguyệt lâu… Bạch lộ lưu tinh, bạch lộ châu…” Lục Kiều Kiều bất giác ngân nga.

“Gì cơ?” Ngũ Tuấn Sinh không nghe rõ.

“Vợ anh dạo này có tới đây không?” Giọng nói nhỏ nhẹ, hổn hển, ngân dài. Lục Kiều Kiều không định trả lời Ngũ Tuấn Sinh.

“Thường thì không đến, chỉ có mồng một, ngày rằm mới tới so sổ sách thôi. Bố anh đi Thượng Hải rồi, việc nhà đều do cô ấy cai quản.” Ngũ Tuấn Sinh như đứa trẻ ngoan, tồng tộc kể tuốt cho Lục Kiều Kiều. Câu trả lời này đã nằm trong suy đoán của Lục Kiều Kiều, cô chẳng qua hỏi bừa một câu để chuyển chủ đề mà thôi.

Tay Ngũ Tuấn Sinh mon men lần đến mé trong đùi Lục Kiều Kiều. Tay của người đàn ông này rất nhỏ và mịn, điều Lục Kiều Kiều thích hơn nữa là, anh ta vừa dịu dàng lại vừa biết nghe lời, giống như kỹ nữ, sau khi xong việc cũng không lăn ra ngủ ngay, anh ta có thể khiến phụ nữ cảm thấy khoan khoái tự đáy lòng.

“Kiều Kiều, lấy anh đi. Vợ anh đến giờ vẫn chưa có con, để anh bảo với bố, ông ấy chắc chắn sẽ đồng ý việc của mình.”

Ngũ Tuấn Sinh là người chân thành. Ngay từ lần đầu tiên gặp Lục Kiều Kiều, sắc đẹp của cô, cơ thể của cô, và cả thái độ hững hờ của cô đều khiến Ngũ Tuấn Sinh hồn xiêu phách lạc. Nếu Lục Kiều Kiều đồng ý, anh ta thậm chí có thể cho cô danh phận bình thê, rước Lục Kiều Kiều qua cửa vào nhà mình.

Theo luật lệ Đại Thanh, người thiếp phải hầu hạ và phục tùng chính thê, sau khi chết bài vị không được xếp vào từ đường của họ tộc, con cái đẻ ra đều chỉ là “dòng thứ”, không được tiếp quản tài sản của gia tộc. Địa vị của bình thê cao hơn thiếp, mọi đãi ngộ đều có thể ngang hàng với chính thê, con cái sinh ra cũng được coi là “dòng đích”, có thể trở thành người thừa kế chính thức. Trong kết cấu gia đình “năm thê bảy thiếp”, ngoài chính thê ra, bốn vị trí có địa vị còn lại chính là của bình thê.

Lục Kiều Kiều trợn mắt thất thần, sau đó nhắm lại. Nếu muốn lấy người đàn ông này, cô có còn làm chuyện mèo mả gà đồng với anh ta ở đây nữa không? Một trong những nguyên nhân cô thích người đàn ông này là bởi anh ta đã có vợ.

Ngũ Tuấn Sinh thấy Lục Kiều Kiều không phản ứng, liền đưa tay lên sờ chiếc cằm nhọn của cô, đoạn nói: “Mấy bữa nữa anh sẽ đi Phật Sơn một chuyến, em đi cùng anh nhé? Chúng ta có thể ở bên nhau vài hôm.”

Lục Kiều Kiều nói: “Xa quá… mệt… không đi đâu… khi anh về cầm cho em hai chiếc bánh Mang Công…”

“Nhà em ở đâu? Anh có thể đến thăm em không? Lần nào cũng để em đến đây, anh sợ em mệt.” Ngũ Tuấn Sinh hỏi dò.

“Hơ hơ…” Lục Kiều Kiều cười nhạt, rít một hơi thuốc thật sâu, đợi đã nghiền, mới trả lời: “Anh đừng nằm mơ nữa, người ta là khuê nữ nhà gia thế, lẽ nào còn phải nằm sẵn trên giường đợi anh đến chơi sao?”

Lục Kiều Kiều biết Ngũ Tuấn Sinh lo lắng, khẽ vỗ mấy cái lên bàn tay đang sờ soạng bầu vú mình, đoạn nói tiếp: “Một thời gian nữa em lại đến, anh yên tâm, không có chuyện gì đâu.”

Ngũ Tuấn Sinh không phải lo lắng không đâu. Theo luật lệ Đại Thanh, “phàm đôi bên thông dâm, đánh tám mươi trượng; kẻ có vợ chồng, đánh chín mươi trượng, dụ dỗ gian dâm, đánh một trăm trượng”. Cũng tức là, nếu trước khi kết hôn mà có quan hệ tình dục, bị người phát giác báo quan sẽ bị đánh tám mươi roi, đôi bên đều có vợ, có chồng mà nảy sinh quan hệ tình dục bên ngoài, sẽ bị đánh chín mươi roi; một bên đơn thân, và một bên đã kết hôn thì nghiêm trọng nhất, phải chịu đánh một trăm roi. Với sức chịu đựng của một người bình thường, đừng nói tám mươi trượng, chỉ cần đánh thật ba đến năm trượng là đã bất tỉnh rồi. Dĩ nhiên, trả một ít bạc, phía nha môn có thể “đánh vờ”. Song phiền phức nhất là từ đó về sau phải mang tội danh trên người, cả đời không ngẩng mặt nhìn ai được. Đối với thương gia chân chính như Ngũ Tuấn Sinh, danh dự tương đương với tiền bạc và địa vị, nếu tới kỹ viện có biển hiệu kinh doanh, chơi kỹ nữ rồi nộp thuế, đó là việc thiên kinh địa nghĩa. Song nếu việc với Lục Kiều Kiều bị moi ra, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.

Nếu Lục Kiều Kiều bằng lòng nhận bạc của Ngũ Tuấn Sinh, sau khi hành sự xong có thể coi Lục Kiều Kiều là hạng gái bao, toàn bộ trách nhiệm có thể đổ lên đầu Lục Kiều Kiều. Vấn đề là Lục Kiều Kiều trước nay chưa từng nhận tiền, chỉ lấy chút quà mọn, còn Ngũ Tuấn Sinh lại không sao dứt được diễm phúc trên trời rơi xuống này, bên cạnh niềm sung sướng còn có áp lực tâm lý.

Song thứ Lục Kiều Kiều muốn là… chơi với lửa.

Bình luận