Tổ Ấm Nơi Tận Cùng Thế Giới

Chương 3-6


Erich, không hiểu lắm về trẻ con, đứng cách vài bước và nói: “Chào bé, xin chào.” Rebecca trố mắt nhìn anh hay nhìn khoảng không quanh anh, một sợi nước dãi đung đưa với vẻ khiêu khích trên cằm nó. Lúc đó, nó đã biết nói được vài tháng. Khi không có ai, nó có thể bi bô hàng giờ, xen lẫn những từ thực tế với thứ từ vựng của riêng nó, nhưng khi đối diện với những người lạ, nó thu mình lại, nhìn chằm chằm với sự chăm chú thản nhiên và hơi đáng sợ, chẳng làm gì khác cả, chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Khi rụt rè như thế, nó vẫn muốn được hưởng những đặc quyền của trẻ con, và sự thu mình do dự đó của nó ẩn chứa một nét phóng túng gần như quyến rũ. Tôi đã học được một bài học về tình cha – bạn yêu đứa con của bạn, một phần nào, vì bạn có thể nhìn thấu toàn bộ con người đó. Một đứa bé sẽ không có một cuộc sống hư hỏng, và khi so sánh với nó, tất cả những người khác mà bạn biết đều có vẻ giả tạo, hay che đậy và đầy thủ đoạn. Trong một năm rưỡi, tôi đã học được một điều rằng tôi có thể tưởng tượng ra cảnh Rebecca lớn lên, làm tôi tức giận, đau lòng hay thất vọng, nhưng tôi không thể nghĩ đến cảnh nó biến thành một kẻ xa lạ. Kể cả khi nó nặng đến hơn một tạ. Kể cả khi nó thuyết giảng về uy thế của một con côn trùng chúa, hay phạm tội giết người vì mưu cầu cá nhân. Chúng tôi đã được kết nối với nhau, chúng tôi đã tạo nên một mối thâm tình vốn không thể bị phá vỡ khi chúng tôi còn sống.

“Sao không ôm bố một cái thật chặt nhỉ?” Tôi nói. Clare miễn cưỡng trao nó cho tôi. Khi tôi ôm lấy nó, nó nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên thấy rõ. Tôi nói: “Chào tiểu thư Rebecca,” và nó cười khanh khách, như thế tôi vừa nảy bật ra từ một cái hộp.

Tôi áp nó thật sát vào ngực. Tôi gí mũi vào bờ vai mập mạp của nó và hít hít.

Erich nói: “Thật thú vị. Những gì mà các bạn đang làm ở đây ấy. Ý tôi là, nó rất, rất thú vị.”

“Anh cứ quá lời,” Clare nói. “Vào bên trong đi, tôi sẽ đưa anh đến phòng anh. Ôi, tôi đã luôn muốn nói thế với ai đó.”

Clare dẫn Erich vào nhà, và Bobby xách va li theo sau. Tôi nán lại bên ngoài với Rebecca một lúc. Ánh nắng chiều tháng Mười vàng óng làm nổi lên từng cái cây trên sườn núi. Một con nhện đốm mập mạp nằm im ở chính giữa tấm mạng nhện hình lục giác hoàn hảo chăng ra giữa hai cái trụ và thanh lan can ở hàng hiên. Cũng nhanh như khi chúng ta lấy chổi quét mạng nhện, những con nhện quê này – vài con có màu sáng, vài con nhàn nhạt như bụi – đã mau chóng tự chăng lại chỗ dung thân cho chúng. Rebecca mấp máy. Nó bắt đầu khoa tay loạn xạ, báo trước cho những cơn khóc nhè vô cớ. Tôi vuốt tóc nó, chờ những giọt nước mắt lăn xuống. Tôi cũng nghĩ đến việc đem nó đi, đưa nó vào vùng núi cùng tôi.

“Vẫn còn có nhiều việc phải làm,” tôi thì thầm. “Sàn nhà vẫn bị mục khô. Và chúng ta thậm chí còn chưa bắt tay vào sửa lại căn bếp.”

Chúng tôi đưa Erich đến tham quan tiệm ăn, lúc đó đang làm ăn tốt nên Bobby và tôi có thể phó mặc nó trong vài giờ cho Marlys, đầu bếp phụ của chúng tôi, và tình nhân của chị ta, Gert, nhân viên phục vụ mới. Khi chúng tôi mở tiệm ăn, chúng tôi đã dự định mô phỏng nó theo kiểu mà chúng tôi muốn tìm thấy trên đường từ Arizona quay về - một tiệm ăn nhỏ đặc biệt phục vụ những món ăn thực sự được bàn tay con người chế biến. Hóa ra là, không phải chỉ mình chúng tôi mới mong muốn kiếm được một tiệm ăn đơn giản mà khó tìm như thế. Tiệm ăn của chúng tôi luôn đông nghịt khách, và vào những ngày cuối tuần, thực khách xếp hàng đến nửa dãy nhà. Thật phấn khởi và phần nào đáng ngại khi thấy người ta quá háo hức với những món ăn thông thường đó: bánh mì và khoai tây chiên được làm ngay từ khâu đầu tiên, món xúp và món hầm, hai loại bánh nướng mỗi ngày. Đôi khi tôi cảm thấy chúng tôi đang lừa họ bằng cách giả vờ giản dị - chúng tôi đã có những cuộc sống ám ảnh, phức tạp và giờ đây chúng tôi đang kiếm sống bằng cách xếp những chiếc vỏ bánh có diềm lên trên những quả táo được hái từ một vườn quả cách đó gần mười dặm, và ký hợp đồng mua những loại mứt tự làm với một bà lão địa phương. Tuy nhiên, một nửa số thực khách của chúng tôi mặc những bộ đồ quê mùa được đặt từ những quyển catalogue và những cái áo len thô kệch được đan ở Hong Kong hay Guatemala. Tôi không cho rằng có ai trong số họ bị mắc lừa cả.

“Ôi, thật tuyệt vời,” Erich thốt lên. Tiệm ăn đã đến giờ đóng cửa, nhưng một nửa số bàn ăn vẫn còn những thực khách đang kết thúc nốt bữa ăn của mình. Marlys và Gert chào đón chúng tôi với vẻ thân thiện, hồ hởi nhưng vẫn ẩn chứa một nét bực bội thoáng qua. Tôi thấy mình hơi xấu hổ bởi vẻ xanh xao và gầy gò của Erich – như thể tôi đã tỏ ra ngang bướng, hay bộc lộ vài bí mật khó chịu, ở nơi tôi đã thuyết phục mọi người tin rằng mình là một kẻ ngây thơ.

Marlys dẫn Bobby vào bếp để bảo cậu cần phải đặt thêm thứ gì, và chỉ cho cậu xem chỗ bị rò rỉ trong máy rửa bát đĩa mà chị ta đã tạm thời bịt lại được. Tôi đã hiểu được rằng ngay cả một tiệm ăn nhỏ thành công cũng phải hoạt động trong một tình trạng khủng hoảng liên tục. Máy móc bị hỏng, bị cháy, hay không hoạt động khi nó được cần đến nhất. Sản phẩm làm ra thì bị cháy đen hay chưa chín, những con sâu gạo chui vào trong bột. Khẩu vị của khách hàng tuy theo những khuôn mẫu rõ rệt nhưng không thể đoán trước được, do đó, có những nguyên liệu mà tuần này chúng tôi hết sạch nhưng sang tuần sau lại bị mốc meo trên giá. Lợi nhuận tuy đều đặn nhưng rất ít, và dường như chúng tôi cứ liên tục phải làm thêm bánh nướng, cắt thêm khoai tây, hay mặc cả với người bán rau về một thùng carton rau diếp héo. Đôi khi tôi bước vào phòng ăn và thấy, với sự ngạc nhiên, rằng tất cả mọi người chỉ ngồi ăn mà không quan tâm hay chú ý gì đặc biệt, và nói chuyện phiếm với nhau. Họ tin rằng đây là một nhà hàng bình thường, và thấy chẳng có gì là lạ khi chúng tôi phải đấu tranh chống lại sự hư hỏng của thực phẩm và những kẻ ăn bám, hay sự giảo hoạt nhỏ mọn bất tận của những nhà cung cấp, để có được những món ăn đơn giản trên những cái đĩa gốm màu trắng này. Trong những dịp hiếm hoi, khi một khách hàng phàn nàn rằng trứng của ông ta đã bị làm kĩ quá hay món thịt xông khói chưa chín, tôi đã phải ghìm mình để khỏi thét lên rằng: “Ông không hề nhận ra rằng ông may mắn thế nào khi chúng tôi làm thế này à? Ông không hiểuà? Lòng biết ơn của ông ở đâu, vì Chúa?” Tôi bắt đầu hiểu rõ hơn sự cần thiết của máy kết đông nhanh, tủ ướp lạnh hay lò vi sóng. Món này có vẻ khá ngon, và điều đó có thể đoán trước được. Nó đã được thái hạt lựu hay được nhào bột, đã được cán hay thái. Nó không thể bị hỏng được. Nó sẽ được bảo quản cho đến khi thực khách quyết định rằng họ muốn gọi món đó lần nữa. Gần hai năm trước, những người chủ của tất cả các tiệm ăn sáng trưng, hoang vắng ở ven đường có vẻ là kẻ thù của chúng tôi, bởi họ bán những món ăn tệ hại vì lòng tham và sự lười biếng. Giờ đây tôi lại coi họ là những nạn nhân của một loại thất bại có sức cám dỗ và mang tính thiết thực hơn.

Gert hỏi Erich và tôi xem chúng tôi có muốn dùng thứ gì không. Chị ta nói cà phê vẫn đang được đun nóng, và lần cuối khi chị ta kiểm tra thì vẫn còn hai miếng bánh nướng nhân việt quất. Liệu chị ta có biết Erich bị bệnh không? Phải chăng đó là nguyên nhân thực sự khiến chị ta quan tâm đến anh như thế? Tôi có thể nhận thấy Erich bị Gert thu hút, vì chị ta quả thực quyến rũ, một phụ nữ tươi tắn, với khuôn mặt cứng rắn và mái tóc dài muối tiêu, người đã bỏ một công việc tốt trong ngành xuất bản để đến sống ở đây với Marlys. Chị ta ăn mặc như một bà vợ nông dân, trong những bộ váy hoa và những chiếc áo len đan, nhưng chị ta biết nói tiếng Nga và từng biên tập tác phẩm của một nhà thơ vĩ đại. Sau khi chúng tôi lịch sự từ chối cà phê và bánh nướng, chị ta đã quay lại với các khách hàng khác, tôi phải cố ngăn lại lời lẩm bẩm: “Chúng tôi nghĩ chị ta đang gian lận sổ sách.”

Erich nói với chất giọng mới mẻ, sôi nổi quá mức: “Nơi này trông thật đáng yêu.”

“Nó là một phần của kế hoạch quảng cáo mà,” tôi nói. “Một phần không thể thiếu để chúng tôi thu hút được khách hàng mục tiêu.”

“Tất cả bọn trẻ này là ai thế?” Anh hỏi, nhắc đến những bức ảnh treo trên tường.

“Những người lạ,” tôi nói. “Một đô la năm bức, mua ở một cửa hàng đồ cũ phía bên trên sông Hudson. Một nửa trong số chúng hiện là những kẻ nghiện rượu, những kẻ sùng Jesus hay là bạn tù của nhau trong các nhà lao. Số còn lại thì sống trong những khu nhà lưu động với sáu đứa con.”

Anh gật đầu ra vẻ đồng tình, như thể đó là những lời kết thúc tốt đẹp cho những đứa trẻ khi lớn lên. Bobby ra khỏi bếp, Marlys theo sau. Đó là một phụ nữ có thân hình lực lưỡng, đầy tàn nhang, mái tóc màu mơ chín.

“Mình nghĩ có lẽ cái máy rửa bát đĩa hỏng rồi,” cậu nói. “Trông nó có vẻ, cậu biết đấy, khá trầm trọng.”

“Tuyệt nhỉ?” Tôi nói. “Phải mất đến hàng tuần họ mới mang một cái máy rửa bát đĩa mới đến đây. Cậu biết họ là như thế nào mà.”

Marlys ném cho tôi một cú đấm dứ. “Này, đồ đực rựa,” chị ta nói.

Tôi giơ tay lên đầu. “Ối, đừng đánh tôi,” tôi đáp. Đây là cách mà Marlys và tôi thường làm để len lỏi qua mê cung của giới tính và sức mạnh. Chị ta kiếm được kha khá tiền ở tiệm chúng tôi và thường xuyên đấm chúng tôi thùm thụp, véo má chúng tôi thật mạnh hay vỗ mông chúng tôi. Tôi là chủ của chị ta, và tôi giả vờ là mình sợ đau, dù nó không hẳn là không liên quan đến những cảm giác thực sự của tôi. Marlys to lớn, điềm tĩnh và giỏi giang trong nhiều lĩnh vực. Chị ta đã sửa cái máy rửa bát đĩa vào giữa ca sáng. Chị ta là một thủy thủ và vận động viên trượt tuyết thành thạo, và biết tên các loại cây.

“Chà, chúng ta sẽ phải xoay xở với nó cho đến khi nó hỏng hẳn,” Bobby nói. “Cậu với mình có thể phải rửa bát đĩa bằng tay trong một thời gian đấy. Và hi vọng thanh tra y tế không ghé qua.”

“Cuộc đời hào nhoáng của một ông chủ nhà hàng là thế đấy,” tôi nói với Erich, anh gật đầu tán đồng.

Chúng tôi ăn tối ở nhà và chủ yếu nói chuyện về Rebecca. Clare và tôi coi Erich như một thính giả trước sự hứng thú của chúng tôi về những chi tiết vụn vặt về việc nuôi nấng một đứa trẻ. Khi chúng tôi chia phần món ngô, thịt rán và salad cà chua, chúng tôi tranh nhau kể về những điều kì cục của Rebecca, về sự ngạc nhiên của chúng tôi trước những vấn đề k hác nhau về tinh thần và thể chất khi được làm cha làm mẹ, và về đủ mọi lại quyết định tương đối có hiệu quả để hướng dẫn nó bước vào cuộc sống của tình yêu và sự lao động kiếm tiền. Erich, có lẽ là một người lịch sự bẩm sinh, không biết là đang giả vờ hay đang thực sự cảm thấy vô cùng hứng thú với cuộc trò chuyện của chúng tôi. Tôi không thể nhận ra điều đó.

Sau bữa tối, chúng tôi đưa Rebecca đi ngủ và xem một trong những bộ phim mà Clare đã thuê. (“Chúng ta không,” chị nói, “chỉ trò chuyện suông vào một ngày cuối tuần như thế này. Tôi đang tích trữ những bộ phim, trò chơi, hay bất cứ thứ gì. Tôi sẽ thuê cả đĩa biểu diễn xiếc chó nếu tôi biết có thể kiếm được nó ở đâu quanh đây.”) Sau khi xem phim xong, chúng tôi vươn vai, ngáp ngắn ngáp dài và nói rằng chúng tôi thấy mệt mỏi như thế nào – đó phần nào là sự thật. Phải, chúng tôi đều nhất trí, đã đến giờ đi ngủ rồi. Erich ngồi thu lu trên ghế, tay kẹp giữa hai đầu gối như thể căn phòng đang đóng băng. Anh quá nhỏ bé, và cứ một mực muốn làm một vị khách ý tứ, biết điều – một người sẵn sàng đồng ý với tất cả mọi việc, và nhất quyết cho rằng những ý định của chủ nhà đều giống hệt với mong muốn của anh. Gần như trước khi nhận ra mình đang làm gì, tôi nói: “Erich, anh bị như thế này từ lúc nào vậy?”

Anh nhìn tôi với vẻ pha lẫn ngạc nhiên và thất vọng, thoáng hấp háy mắt. Tôi chợt nghĩ rằng có thể anh coi tôi là nguồn gây bệnh cho anh. Vì thực tế thì có thể là như vậy.

“Tôi không chắc liệu nó có lộ rõ không,” anh nói. Anh nói quá nhỏ đến nỗi tôi khó có thể nghe thấy. Giọng anh khe khẽ như tiếng kêu của lò sưởi. Nhưng anh hấp háy mắt một cách dữ dội, và kẹp chặt đùi vào đôi bàn tay hơn. “Tôi đã cảm thấy khá hơn,” anh nói. “Ý tôi là, ừm, tôi nghĩ rằng trông tôi vẫn ổn.”

“Đã bao lâu rồi?” Clare hỏi. Trước khi tôi nói chị đã đứng dậy, định đi pha trà thảo mộc, nhưng giờ chị vẫn đứng yên một chỗ bên cạnh chiếc sofa. Bobby, vẫn ngồi, quan sát trong im lặng.

Erich ngập ngừng như thể đang cố nhớ lại. “Ừm, tôi đã thấy mình đổ bệnh được hơn một năm,” anh nói. “Tôi không thể tin được, ý tôi là sẽ thật là lạ khi tưởng tượng ra những triệu chứng này một cách rõ ràng như thế và rồi bắt đầu có chúng. Một thời gian tôi đã nghĩ rằng có thể tôi chỉ đang mắc bệnh tưởng thôi. Nhưng rồi, ừm. Tôi đã được chẩn đoán khoảng năm tháng trước.”

“Thế mà anh không gọi cho tôi?” Tôi nói.

“Làm thế thì có ích gì?” Anh nói. Lúc này giọng anh truyền ra không khí một cách rõ ràng như một sợi dây cáp xuyên qua sương mù. Nó đã mất đi vẻ lịch sự, nhiệt tình, thay vào đó là một vẻ cay đắng mà tôi chưa từng nghe thấy ở anh. “Có gọi thì cũng đâu có thuốc chữa,” anh nói. “Có gọi thì anh cũng có thể làm được gì ngoài việc lo lắng về nó.”

“Tôi đã hẹn hò với anh khi anh bị bệnh,” tôi nói. “Thế mà anh chẳng nhắc gì đến nó.”

Nhưng ngay lúc đó, tôi cũng nhớ ra rằng: chúng tôi không có mối ràng buộc nào để đề cập đến những vấn đề đó. Những gì chúng tôi trao đổi với nhau chủ yếu là tình dục và nỗi cô đơn chung.

Anh nhìn tôi. Mắt anh trông thật khủng khiếp. “Nói thật, tôi thấy rất xấu hổ,” anh nói. “Khi tôi nghĩ về một điều như thế này xảy ra, khi tôi nghĩ và, anh biết đấy, tưởng tượng ra nó, tôi biết tôi sẽ sợ hãi và tức giận. Và, ừm, cảm thấy có lỗi. Tôi không ngạc nhiên lắm về những cảm xúc đó. Nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy mình xấu hổ vì nó.”

“Cưng à, không sao đâu,” Clare nói.

Erich gật đầu. “Dĩ nhiên là không sao,” anh nói. “Còn có thể nói gì khác nữa đây?”

“Chẳng có gì,” chị nói. “Xin lỗi.”

“Tôi nghĩ tôi đang cố hướng đến một thứ gì đó như ngôi nhà này,” anh nói. “Chị biết đấy, tôi đang cố gắng mường tượng ra những gì phải làm với cuộc đời mình. Tôi đã nghĩ tôi sẽ kiếm tiền bằng cách nào đó và ổn định ở một nơi như thế này.”

“Ở đây đêm dài lắm đấy,” Clare nói.

“Nó là thiên đường,” anh nói. “Đừng cố giỡn tôi. Nó quả thực là thiên đường, và chị biết thế mà.”

Chúng tôi vẫn yên vị, đèn vẫn bật và đồng hồ vẫn kêu tích tắc. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là Rebecca. Nếu lúc nãy tôi muốn được biến mất vào trong đám cỏ cao, thì giờ đây tôi chỉ muốn đi đến phòng nó, đánh thức nó dậy, và vỗ về nó. Tôi nghĩ về đôi bàn chân xinh xắn của nó, và thói quen nắm chặt lấy tóc bằng một tay khi nó mút ngón tay cái ở tay kia. Tôi băn khoăn không hiểu, liệu ở tuổi hai mươi lăm, nó có còn chút dấu vết nào của cái thói quen đó không. Nó khi đã là một thanh nữ, liệu có hay nghịch tóc khi nó thấy lo lắng hay mệt mỏi? Liệu có ai sẽ yêu hình ảnh lọn tóc nâu cứ liên tục được xoắn ra xoắn vào quanh ngón tay vô thức của nó? Hay có người sẽ thấy khó chịu vì điều đó? Liệu mai này có ai nhìn thấy nó khi nó mệt mỏi, với những ngón tay cứ bận rộn nghịch tóc, và nghĩ rằng “mình chịu hết nổi rồi” không?

Tôi nói: “Em sẽ lên kiểm tra con bé.”

“Nó ổn mà,” Clare nói. “Nó đâu có gây ra tiếng động gì.”

“Nhưng kiểm tra thì có hại gì đâu.”

“Jonathan, nó vẫn ổn,” Clare nói. “Thực sự là thế.”

Đêm đó Erich ngủ một mình ở giường tôi. Dù tôi đã tuyên bố rằng mình sẽ ngủ trên tấm đệm dưới nhà, nhưng cuối cùng tôi lại ngủ chung với Bobby và Clare trên giường của họ. Tôi nằm giữa họ, khoanh tay trước ngực.

“Điều mà em thực sự cảm thấy ghê tởm,” tôi nói, “là em đã quá lo lắng cho bản thân mình. Erich bị bệnh, và em thấy thương cho anh ấy, nhưng chỉ theo một cách mơ hồ. Như thế cái thói ích kỉ của em là một hành khúc Sousa, và căn bệnh hiện tại của Erich là tiếng sáo kim đang làm nền cho nó.”

“Cũng là tự nhiên thôi mà,” chị nói. “Nhưng nghe này, có lẽ cậu không sao đâu. Cậu vẫn mạnh khỏe trong, xem nào, hơn một năm từ lần cuối cậu và Erich…”

“Nó có thể ủ bệnh trong ít nhất là năm năm,” tôi nói. “Gần đây người ta đang nghĩ nó có thể kéo dài đến mười năm nữa kìa.”

Chị gật đầu. Có gì đó không ổn, chị không phản ứng theo cách mà tôi mong đợi, với tính bạo dạn và sự cợt nhả “kiểu Clare”. Có vẻ chị đã thay đổi.

Bobby nằm im lặng bên cạnh tôi. Cậu hầu như chẳng nói gì suốt từ lúc ăn tối. “Bobby này?” Tôi nói.

“Ơi?”

“Sao thế? Cậu trầm lặng chết đi được.”

“Mình không sao,” cậu nói. “Mình chỉ đang suy nghĩ thôi.”

Clare nhéo vào khuỷu tay tôi. Tôi biết ý chị là gì: hãy để cậu yên cho đến khi cậu có thời gian để lấy lại được phản ứng thích hợp. Bobby đối mặt với những điều ngạc nhiên trên đời bằng một sự thận trọng gần như lơ mơ. Clare và tôi đã ngầm quyết định rằng nếu ngôi nhà bị cháy, một người trong chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm giúp cậu ấy lựa chọn nên nhảy ra khỏi cái cửa sổ nào.

“Em chỉ cảm thấy quá… kì lạ,” tôi nói. “Từ giờ trở đi, làm sao mà em có thể yên ổn trải qua một ngày nếu cứ mỗi năm phút không kiểm tra những triệu chứng của mình?”

“Cưng ơi, có lẽ cậu không sao đâu,” Clare nói, nhưng giọng chị chẳng hề có sức thuyết phục. Để bù lại, chị vỗ vỗ lên ngực tôi. Từ khi sinh con bé, Clare bỗng dưng hay có những đụng chạm về cơ thể hơn, dù sự âu yếm của chị vẫn đồng bóng và mơ hồ, như thể chị e rằng cơ thể của những người khác có thể làm tay chị bị bỏng.

“Cậu nghĩ sao, Bobby?” Tôi hỏi.

“Mình nghĩ cậu không sao đâu,” cậu đáp.

“Chà, tốt quá. Mình thấy mừng khi cậu nghĩ thế.”

Clare nói: “Tôi phân vân không hiểu Erich sẽ xoay xở chuyện này ra sao. Tôi có cảm giác anh ta không có nhiều bạn.”

“Anh ấy có bạn chứ,” tôi nói. “Chị nghĩ gì vậy, chị nghĩ anh ấy sống trong một môi trường chân không à? Chị nghĩ anh ấy thuộc loại diễn viên không có cuộc sống riêng sao?”

“Làm sao tôi biết được?” Clare nói.

Tôi nhận ra, qua giọng chị, rằng chị phần nào đổ lỗi cho tôi vì tôi đã không thể yêu Erich. Từ khi sinh con, chị đã bỏ hẳn cơ số những lời nhạo báng trước đây, và có xu hướng hi vọng những người khác cũng mềm mỏng hơn như chị.

“Xin đừng nổi cáu với em,” tôi nói. “Không phải lúc này. Chị có thể cáu kỉnh gấp đôi với em vào lúc khác.”

“Tôi không cáu kỉnh,” chị nói. Chị có thói quen phủ nhận những hành động của mình ngay cả khi chị đã thực hiện chúng. Vào lúc đó, tôi tin rằng nếu cứ như thế này thì chị có thể gây hại nghiêm trọng cho con bé. Rebecca sẽ bị ảnh hưởng thế nào khi lớn lên với một người mẹ thường hay hét lên rằng: “Tôi có hét đâu”?

“Đúng,” tôi nói. “Chị không cáu. Chị luôn biết chính xác những gì đang thoát ra từ miệng chị, và bất cứ điều gì người khác nghĩ là họ nghe thấy chỉ là một ảo giác mà thôi.”

“Chúng ta không cần phải tranh cãi vào lúc này,” chị nói. “Trừ phi cậu thực sự muốn.”

“Có lẽ em muốn đấy. Chị thấy tức em vì em không yêu Erich, đúng không?”

“Dĩ nhiên là không. Sao tôi lại có thể tức giậnu bởi một chuyện như thế? Bất kể cậu yêu ai hay không.”

“Ôi, ba người chúng ta vẫn quen với sự nhập nhằng nhiều hơn thế này mà,” tôi nói. “Đúng không? Nói đi. Chị có nghĩ chính em đã làm hỏng cuộc đời em không? Chị có nghĩ việc em yêu chị và Bobby và có một mối quan hệ tình dục nghiêm túc với Erich là bất bình thường không?”

“Cậu đang nói thế đấy chứ,” chị nói.

“Nhưng em muốn nghe xem chị nghĩ gì. Chị nghĩ ở em có điều gì đó không hoàn thiện. Đúng không? Chị nghĩ rằng Bobby và em, mõi người chỉ có một nửa là đàn ông. Đó là lý do chị ở với cả hai bọn em. Bọn em cùng nhau tạo nên một người trong mắt chị. Đúng không?”

“Thôi đi. Cậu đang bối rối, đây không phải là lúc thích hợp để cố nói chuyện.”

“Đó đâu phải là điều em muốn,” tôi nói. “Nhưng nó đã xảy ra. Em không muốn chị đột nhiên căm ghét em chỉ vì điều này. Clare, vì Chúa, em sợ lắm.”

Chị buột miệng nói: “Tôi không…,” nhưng đã kịp ngăn lại. “Ôi, có lẽ thế,” chị nói. “Tôi cũng sợ.”

“Em không buộc phải yêu Erich chỉ vì anh ta bị bệnh,” tôi nói. “Em không cần phải đột nhiên có trách nhiệm với anh ta.”

“Không,” chị nói. “Không, tôi đâu có cho rằng cậu phải làm thế.”

“Chết tiệt, sao em lại mời anh ta đến chứ?”

“Jonathan, cưng ơi,” chị nói. “Việc Erich có mặt ở đây không gây ra điều gì khác biệt cả. Nghe cậu nói như thể cậu nghĩ rằng anh ta mang theo vài mầm bệnh đến đây ấy.”

“Không phải sao? Trước đây em có thể trải qua một ngày mà không nghĩ về nó. Giờ thì em không làm được như thế nữa.”

“Cậu vô lý quá,” chị nói. “Ôi, cậu có lý đến phát điên lên được. Tôi biết cậu đang nói gì. Nhưng đừng đổ lỗi cho anh ta. Đó không phải lỗi của anh ta.”

“Em biết,” tôi khổ sở nói. “Em biết thế.”

Hạn chế của tôi chính là cái lý trí của tôi. Tôi quá điềm tĩnh, quá đúng mực. Nếu tôi là một người khác, tôi có thể đã phá phách khắp nhà, đập vỡ đồ sành sứ và giật xé những bức tranh trên tường. Dĩ nhiên nó sẽ không giải quyết được gì, nhưng nó sẽ giải tỏa được bức xúc – nó sẽ là khoái lạc duy nhất mà tôi có thể tưởng tượng ra khi đó. Cái ý nghĩ về tình dục làm tôi ghê tởm, sự an ủi của những người bạn hoàn toàn khỏe mạnh cũng thế. Mong muốn duy nhất của tôi là chạy loạn lên, gào thét quanh nhà, giật xé những tấm rèm và đập vỡ đồ đạc, phá tan mọi tấm kính.

“Cố ngủ đi,” Clare nói. “Không ích gì khi cứ thao thức lo nghĩ về chuyện đó.”

“Em biết. Em sẽ cố.”

“Ừ. Chúc ngủ ngon.”

“Chúc ngủ ngon.”

Chị đặt tay lên bụng tôi và kéo tôi lại gần mùi hương và sự ấm áp tỏa ra từ cơ thể chị. Bobby thở nhè nhẹ bên tay kia của tôi. Tôi biết tôi nên cảm thấy thoải mái và gần như đã làm được, nhưng cảm giác thanh thản thực sự cứ rung rinh bên ngoài tầm với của tôi. Tôi đang ở một nơi hoang vu với những người mà cuộc đời vẫn sẽ không thay đổi nếu tôi chết đi. Tôi nằm giữa Clare và Bobby, nghe ngóng Rebecca. Nếu nó thức giấc và khóc, tôi sẽ đến phòng nó và vỗ về nó. Tôi sẽ đun nóng chai sữa và bế nó khi nó uống. Tôi nằm ngóng đợi tiếng khóc thút thít đầu tiên, nhưng nó vẫn ngủ ngoan.

Bình luận