Suối Nguồn

Chương II


Một tấm biển treo trước cửa ra vào – tấm biển mang tên tờ báo:

NGỌN CỜ NEW YORK

Tấm biển nhỏ bé – như một tuyên ngôn về một danh tiếng và quyền lực quá lớn, đến mức chúng không cần được nhấn mạnh. Nó giống như một nụ cười đẹp và ngạo nghễ, biện hộ cho sự xấu xí trơ trụi của tòa nhà. Tòa nhà như một cái nhà máy, khinh thường mọi thứ đồ trang trí, ngoại trừ những ngụ ý của tấm biển mang tên nó.

Tiền sảnh của tòa nhà giống như miệng của một lò luyện kim. Những chiếc thang máy hút một dòng nhiên liệu người và truyền nguồn năng lượng ấy đi khắp tòa nhà. Mọi người không chạy đi chạy lại hối hả, nhưng dáng vẻ của họ đều ẩn chứa vẻ vội vã; họ đang bị thúc đẩy bởi một mục đích nào đó; không có ai la cà dưới tiền sảnh. Những cánh cửa thang máy mở ra đóng vào lách cách như những chiếc van, theo một nhịp đều đặn. Những đèn màu xanh đỏ nhấp nháy trên tấm bảng gắn trên tường, báo vị trí chuyển động của các thang máy trong không gian.

Dường như mọi thứ trong tòa nhà này đều được điều khiển từ những bảng điều khiển nằm trong tay một ông chủ, người nắm rõ từng chuyển động của tòa nhà, cứ như thể có một luồng năng lượng đang tỏa khắp trong tòa nhà này, làm cho nó vận hành trơn tru, không hề có tiếng động, như một cỗ máy khổng lồ không gì có thể phá hủy nổi. Không có ai để mắt tới người đàn ông tóc đỏ vừa dừng lại dưới tiền sảnh trong chốc lát.

Howard Roark nhìn lên mái vòm nhiều tầng của tòa nhà. Anh chưa bao giờ căm ghét bất kỳ một người nào. Nhưng đâu đó trong tòa nhà này có người chủ của nó – người đàn ông đã làm anh thấy tiệm cận gần nhất với sự căm ghét.

Gail Wynand liếc nhìn chiếc đồng hồ nhỏ trên bàn làm việc. Vài phút nữa, ông có một cuộc hẹn với một kiến trúc sư. Ông nghĩ rằng cuộc phỏng vần này sẽ chẳng có gì là khó khăn. Ông đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn như vậy trong đời mình. Ông chỉ cần phải nói – ông biết mình muốn nói gì; còn người kiến trúc sư thì chẳng phải làm gì cả, chỉ cần thốt ra vài từ để biểu thị là anh ta nắm được ý ông.

Ánh mắt ông rời khỏi chiếc đồng hồ và chuyển tới những bản tin thử đặt trên bàn. Ông đang đọc một bài xã luận của Alvah Scarret về việc công chúng cho sóc ăn trong Công viên Trung tâm và một bài báo của Ellsworth Toohey về những giá trị to lớn của một cuộc triển lãm các bức tranh do những nhân viên của Ban bảo vệ Thành phố vẽ. Chuông trên bàn ông vang lên cùng với giọng của người thư ký: “Ông Howard Roark đã đến, thưa ngài Wynand.”

“Được rồi” Wynand nói và tắt công tắc. Khi rút bàn tay về, ông để ý tới hàng nút bấm phía cạnh bàn, những nút bấm nhỏ với các màu sắc được quy định sẵn, mỗi nút là điểm cuối cùng của một đường dây nối tới bộ phận nào đó trong tòa nhà, mỗi sợi dây điều khiển một người nào đó và mỗi người này lại điều khiển những người khác dưới quyền anh ta, mỗi nhóm người đó đóng góp vào bộ mặt hoàn chỉnh của tờ báo và sẽ có mặt trong hàng triệu căn nhà, trong đầu óc của hàng triệu con người – những nút bấm nhỏ bằng nhựa màu này, chúng ở ngay đó dưới những ngón tay ông. Nhưng ông không có thời gian để vui thú với suy nghĩ này; cửa phòng làm việc của ông vừa mở ra; ông rời tay khỏi những nút điều khiển.

Wynand không chắc có phải là ông đã lỡ mất một nhịp, có phải ông đã không lập tức đứng lên chào khách theo phép lịch sự thông thường, mà ông đã ngồi yên, nhìn vào người đàn ông vừa bước vào phòng. Có thể ông đã đứng dậy ngay lập tức, có điều là khoảng thời gian tiếp sau cử động đó của ông kéo dài quá lâu. Roark không chắc liệu có phải anh đã dừng lại sau khi bước vào văn phòng, rằng anh đã không bước thẳng tới mà đứng tại chỗ nhìn người đàn ông ngồi sau bàn. Mà cũng có khi anh đã tiến thẳng về phía người đàn ông, chỉ có điều là anh đã tưởng là anh dừng lại. Nhưng rõ ràng đã có một khoảnh khắc mà cả hai người đều quên đi những quy tắc của thực tại trước mắt, khi Wynand quên bẵng mất mục đích của ông khi gọi người đàn ông này tới văn phòng, còn Roark quên bẵng người đàn ông này là chồng của Donimique; khi trước mặt họ không có cửa ra vào, không có bàn làm việc, mà cũng chẳng có những tấm thảm. Giữa họ chỉ có sự nhận biết trọn vẹn đối với mỗi người về người đàn ông đối diện, chỉ có hai ý nghĩ gặp nhau ở giữa phòng – “Đây là Gail Wynand” – “Đây là Howard Roark.”

Rồi Wynand đứng dậy; bàn tay ông khoát một cử chỉ đơn giản để mời khách ngồi xuống chiếc ghế bên bàn; Roark tiến lại gần và ngồi xuống. Họ không nhận ra là họ đã không chào hỏi nhau.

Wynand mỉm cười và nói điều mà ông đã không bao giờ định nói. Ông nói một cách giản dị:

“Tôi không nghĩ là anh sẽ muốn làm việc cho tôi.”

“Tôi muốn làm việc cho ông,” Roark nói mặc dù anh đã đến đây với dự định từ chối.

“Ông đã xem những gì tôi xây dựng?”

“Đúng vậy.”

Wynand mỉm cười, “Lần này là một việc khác. Công trình này không dành cho công chúng. Nó dành cho tôi.”

“Ông chưa bao giờ xây cái gì cho ông?”

“Chưa bao giờ, ngoại trừ cái chuồng cọp trên mái nhà và cái nhà máy in cũ kỹ này. Anh có thể nói cho tôi biết tại sao tôi chưa bao giờ xây dựng một công trình nào cho riêng tôi, mặc dù nếu tôi muốn thì tôi có đầy đủ phương tiên để xây dựng cả một thành phố? Tôi không biết tại sao. Tôi nghĩ có lẽ anh biết.” Ông quên mất rằng ông không cho phép những người ông thuê làm được quyền suy đoán về cá nhân ông.

“Bởi vì ông chưa bao giờ hạnh phúc.” Roark nói.

Anh nói điều đó một cách đơn giản, không chút xấc xượt, như thể rằng anh không thể làm gì khác ngoài việc bộc lộ một sự chân thành tuyệt đối. Đây không phải là phần đầu của một cuộc phỏng vấn mà là phần giữa, giống như là tiếp nối của một cái gì đó đã được bắt đầu từ lâu lắm rồi. Wynand nói:

“Giải thích đi.”

“Tôi nghĩ ông hiểu.”

“Tôi muốn nghe anh giải thích điều đó.”

“Hầu hết mọi người đều xây nhà như cách họ sống – giống như một việc phải làm hàng ngày, một sự kiện vô nghĩa. Nhưng một số ít hiểu rằng một công trình kiến trúc là một biểu tượng vĩ đại. Chúng ta thực sự sống bằng đầu óc của chúng ta, và sự tồn tại chỉ là một cố gắng để làm cho cuộc sống đó hiện hữu, để tuyên bố về cuộc sống ấy bằng ngôn ngữ của cử chỉ và hình thể. Với những người hiểu được điều này thì ngôi nhà anh ta ở là một tuyên ngôn về cuộc sống của anh ta. Nếu như anh ta không xây nhà, khi anh ta có đủ điều kiện để làm việc đó, thì đó là vì cuộc sống của anh ta không phải cái anh ta từng mong muốn.”

“Anh không thấy phi lý khi nói điều đó với chính tôi chứ không phải ai khác à?”

“Không.”

“Tôi cũng vậy.” Roark mỉm cười. “Nhưng anh với tôi là hai người duy nhất sẽ nói ra điều đó. Nói một trong hai phần của nó: rằng tôi không có được cái tôi mong muốn và rằng tôi có thể nằm trong số ít người có thể hiểu được cái loại biểu tượng vĩ đại. Anh không rút lại phần đằng sau chứ?”

“Không.”

“Anh bao nhiêu tuổi?”

“Ba mươi sáu.”

“Tôi đã sở hữu hầu hết những tờ báo tôi có hiện nay khi tôi ba mươi sáu tuổi.” Ông nói thêm: “Tôi không có ý nói điều đó như một lời tự khen. Tôi không biết tại sao tôi lại nói thế. Tôi chỉ chợt nghĩ đến điều đó.”

“Ông muốn tôi xây cái gì cho ông?”

“Ngôi nhà của tôi.”

Wynand cảm thấy rằng những từ này có một tác động nào đó tới Roark, ngoài ngữ nghĩa thông thường của chúng. Ông cũng không biết lý do vì sao ông thấy như thế, bởi Roark chẳng bộc lộ ra bên ngoài bất cứ điều gì.

“Anh đã đúng,” Wynand nói, “bởi vì anh thấy đấy, bây giờ tôi thật sự muốn xây một ngôi nhà của riêng tôi. Bây giờ tôi không sợ cái hình dáng hữu hình của cuộc đời tôi. Nếu anh muốn nói thẳng như anh nói, thì bây giờ tôi đang hạnh phúc.”

“Ông muốn một ngôi nhà như thế nào?”

“Một ngôi nhà ở vùng nông thôn. Tôi đã mua đất. Một khu đất rộng năm trăm mẫu ở Connecticut. Một ngôi nhà ra sao à? Anh sẽ quyết định điều đó.”

“Có phải bà Wynand đã chọn tôi làm người thiết kế?”

“Không. Bà Wynand không biết gì về chuyện này. Chính tôi muốn chuyển ra ngoài thành phố, và cô ấy đồng ý. Tôi đã hỏi cô ấy về việc chọn kiến trúc sư – vợ tôi tên trước khi lấy chồng là Dominique Francon. Cô ấy từng viết chuyên về lĩnh vực kiến trúc. Nhưng cô ấy muốn để tôi lựa chọn. Anh muốn biết tại sao tôi lại chọn anh à? Tôi đã dành nhiều thời gian để quyết định việc này. Ban đầu tôi cảm thấy khá lúng túng. Tôi chưa bao giờ nghe về anh. Tôi không biết bất kỳ một kiến trúc sư nào cả. Tôi nói theo đúng nghĩa đen đấy – và tôi tính cả những năm tháng kinh doanh bất động sản, những thứ tôi đã xây dựng và những kẻ ngớ ngẩn đã xây dựng chúng cho tôi. Lần này thì không phải là Stoneridge, mà là… anh đã gọi nó là gì nhĩ? – một tuyên ngôn về cuộc sống của chính tôi? Rồi thì tôi nhìn thấy Monadnock. Đó là thứ đầu tiên làm tôi nhớ tên anh. Nhưng tôi đã tự kiểm tra rất lâu. Tôi đã đi vòng quanh các vùng nông thôn, ngắm nhìn các căn nhà, khách sạn, đủ loại công trình. Bất cứ khi nào nhìn thấy một công trình tôi thích, tôi đều hỏi xem ai đã thiết kế công trình đó, và luôn nhận được một câu trả lời: Howard Roark. Vì thế tôi đã gọi điện cho anh.”

Ông nói thêm:

“Tôi có nên nói với anh là tôi ngưỡng mộ các công trình của anh đến thế nào không?”

“Cám ơn ông,” Roark nói. Anh nhắm mắt trong giây lát.

“Anh biết đấy, tôi đã không muốn gặp anh.”

“Tại sao?”

“Anh đã nghe nói về gallery của tôi rồi chứ?”

“Tôi đã.”

“Tôi không bao giờ gặp tác giả của những tác phẩm mà tôi yêu thích. Những tác phẩm ấy có ý nghĩa quá lớn đối với tôi. Tôi không muốn những người này làm hỏng nó. Mà họ thì thường làm như thế. Họ là chướng ngại vật đối với chính tài năng của họ. Anh thì lại không phải là người như vậy. Tôi không ngại nói chuyện với anh. Tôi nói với anh điều này chỉ bởi vì tôi muốn anh biết rằng tôi tôn trọng rất ít thứ trong cuộc đời này, nhưng tôi tôn trọng những tác phẩm trong gallery của tôi, và những công trình của anh, và cái năng lực của những người đã tạo nên những tác phẩm như vậy. Có lẽ đó là thứ tôn giáo duy nhất của tôi.” Ông nhún vai: “Tôi nghĩ rằng tôi đã hủy hoại, bóp méo, và làm biến chất tất cả mọi thứ tồn tại trên đời này. Nhưng tôi chưa bao giờ chạm tới những thứ kia. Tại sao anh lại nhìn tôi như vậy?”

“Xin lỗi ông. Xin ông nói cho tôi biết về ngôi nhà mà ông muốn.”

“Tôi muốn nó phải là một cung điện – chỉ có điều tôi không nghĩ cung điện là một nơi xa hoa. Chúng quá rộng, như một chốn công cộng hỗn tạp. Một ngôi nhà nhỏ mới là sự xa hoa thực sự. Một nơi ở chỉ cho hai người, vợ tôi và tôi. Ngôi nhà ấy không nhất thiết phải thiết kế đủ cho một gia đình, chúng tôi không định có con cái gì cả. Cũng không cần chỗ cho khách khứa, vì chúng tôi không định mua vui cho ai. Một phòng khách – để đề phòng trường hợp cần thiết – nhưng chỉ cần một phòng thôi. Phòng khách, phòng ăn, thư viện, hai phòng làm việc, một phòng ngủ. khu ở cho người giúp việc, ga-ra ô-tô. Đó là ý tưởng tổng thể. Tôi sẽ cung cấp cho anh các thông tin chi tiết sau. Chi phí – bất kể anh cần bao nhiêu. Bề ngoài của nhà tôi thì…” Ông mỉm cười, nhún vai. “Tôi đã nhìn các công trình của anh. Nếu một ai đó muốn bảo cho anh biết cách thiết kế một ngôi nhà, thì hoặc anh ta phải có khả năng thiết kế nó đẹp hơn, nếu không thì anh ta nên im miệng đi. Tôi chỉ nói rằng tôi muốn ngôi nhà của tôi có chất lượng của Roark.”

“Đó là cái gì vậy?”

“Tôi nghĩ là anh hiểu.”

“Tôi muốn nghe ông giải thích điều đó.”

“Tôi thấy rằng một vài tòa nhà phô trương một cách rẻ tiền, tất cả đều trưng hết ra mặt tiền. Một vài cái thì hèn nhát, như thể mỗi viên gạch đều đang cuối đầu thanh minh về bản thân nó. Một vài tòa nhà khác thì lại có cái vẻ bất hợp lý cố hữu, vá víu, nanh nọc và nhầm lẫn ở đâu đó. Những tòa nhà của anh mang đến cho người ta một cảm giác hoàn toàn khác – một cảm giác hân hoan. Không phải là một sự hân hoan dễ dãi mà là niềm vui bao trùm và khó có được. Như thể nó làm cho người ta cảm thấy rằng đạt được niềm vui ấy là một thành công. Người ta nhìn ngắm tòa nhà và nghĩ rằng: ta sẽ là một người tốt hơn nếu ta có thể cảm nhận được niềm hân hoan đó.”

Roark nói chậm rãi, không phải bằng âm điệu của một câu trả lời:

“Tôi đoán việc này là không thể tránh khỏi.”

“Việc gì?”

“Việc ông nhận ra những điều ấy.”

“Tại sao anh nói như thế… anh tiếc rằng tôi nhận ra những điều đó?”

“Tôi không tiếc.”

“Nghe này, đừng lấy những thứ mà tôi đã xây dựng trước đây để chống lại tôi.”

“Tôi không làm như vậy.”

“Tất cả những Stoneridges, khách sạn Noyes-Belmont – và các tờ báo Wynand – tất cả những cái đó đã làm cho tôi có khả năng để có được một ngôi nha do anh thiết kế. Đây hẳn là một sự xa xỉ đáng vươn tới, đúng không? Nếu thế thì việc tôi có được sự xa xỉ ấy bằng cách nào đâu có ý nghĩa gì. Chúng là phương tiện. Anh là mục đích.”

“Ông không phải thanh minh với tôi.”

“Tôi không hề thanh… Phải, tôi nghĩ là tôi đang thanh minh.”

“Ông không cần làm thế. Tôi không nghĩ về những thứ mà ông đã xây.”

“Anh đang nghĩ gì?”

“Rằng tôi hoàn toàn bất lực trước một người có thể nhìn thấy những gì mà ông ta đã nhìn thấy trong các tòa nhà của tôi.”

“Anh cảm thấy anh cần được giúp đỡ để chống lại tôi sao?”

“Không. Có điều, về nguyên tắc, tôi không bao giờ cảm thấy bất lực.”

“Về nguyên tắc, tôi cũng không bao giờ phải thanh minh. Vậy thì mọi chuyện ổn cả đúng không?”

“Đúng thế.”

“Tôi phải nói với anh thêm về ngôi nhà tôi muốn có. Tôi cho rằng một kiến trúc sư giống như một linh mục nghe xưng tôi – anh ta phải biết tất cả mọi điều về những người sẽ sống trong căn nhà đó, bởi vì cái mà anh ta làm ra, đối với họ, sẽ có tính riêng tư hơn cả cơm ăn áo mặc. Xin hãy cân nhắc về điều này, và bỏ qua cho tôi nếu anh thấy rằng nói ra những điều này, đối với tôi, là rất khó khăn – tôi chưa bao giờ đi xưng tội. anh biết đấy, tôi muốn có căn nhà này bởi vì tôi thật sự yêu vợ tôi… Anh sao thế? Anh thấy điều này không liên quan gì?”

“Ồ không. Ông tiếp tục đi.”

“Tôi không thể chịu đựng được khi nhìn thấy vợ tôi ở giữa những người khác. Đó không phải là sự ghen tuông. Nó còn nhiều hơn và tệ hơn thế. Tôi không thể nhìn cô ấy đi dạo trên đường phố. Tôi không thể chia sẻ cô ấy, ngay cả với các cửa hàng, nhà hát, taxi, hay hè phố. Tôi phải mang cô ấy đi xa. Tôi phải đặt cô ấy ra ngoài tầm với, để không gì có thể chạm vào cô ấy dưới bất kỳ hình thức nào. Ngôi nhà này là một pháo đài. Kiến trúc sư sẽ là người bảo vệ tôi.”

Roark ngồi nhìn thẳng vào ông. Anh phải giữ cho mắt mình nhìn vào Wynand để có thể lắng nghe. Wynand cảm thấy sự cố gắng trong ánh mắt anh của anh, nhưng ông không nhận ra đó là một sự cố gắng, mà chỉ nghĩ rằng đó là một sức mạnh. Ông thấy cái ánh mắt ấy nâng đỡ ông; ông không còn cảm thấy việc xưng tội là khó khăn.

“Ngôi nhà này sẽ là một nhà tù. À không, không hẳn như vậy. Nó sẽ là một cái kho báu – một căn hầm để bảo vệ những đồ vật quý giá khỏi mắt nhìn của thiên hạ. Nhưng còn hơn thế nữa, ngôi nhà ấy phải là một thế giới tách biệt, phải đẹp đến mức chúng tôi sẽ không bao giờ nhớ nhung cái thế giới chúng tôi đã bỏ lại. Một nhà tù bằng quyền lực từ sự hoàn hảo của chính nó. Không phải những chấn song hay tường rào, mà chính tài năng của anh sẽ như một bức tường ngăn giữa chúng tôi với thế giới. Đó là điều tôi mong đợi ở anh. Và còn nhiều hơn thế. Anh đã bao giờ xây một ngôi đền chưa?”

Trong một khoảnh khắc, Roark không đủ sức để trả lời, nhưng rồi anh thấy câu hỏi này là chân thành. Wynand không biết gì cả.

“Rồi,” Roark nói.

“Vậy thì hãy nghĩ về công trình này như là xây một ngôi đền. Một ngôi đền dành cho Dominique Wynand… Tôi muốn anh gặp cô ấy trước khi thiết kế nó.”

“Tôi đã gặp bà Wynand vài năm trước.”

“Anh đã gặp à? Vậy thì anh hiểu.”

“Tôi hiểu.”

Wynand nhìn vào bàn tay của Roark đang nằm trên cạnh bàn, những ngón tay dài tỳ vào kính, bên cạnh các bản in thử của tờ Ngọn cờ. Các bản in thử này được gập lại một cách sơ ý. Ông nhìn thấy tiêu đề Một ý kiến nhỏ trên trang in. Ông nhìn bàn tay của Roark. Ông nghĩ rằng có lẽ ông thích một cái chặn giấy bằng đồng trông giống như vậy, trông sẽ thật đẹp biết bao khi có nó trên bàn làm việc của ông.

“Bây giờ thì anh biết tôi muốn gì rồi. Hãy bắt tay vào công việc. Bắt đầu ngay đi. Hãy bỏ tất cả những gì anh đang làm. Tôi sẽ trả bất cứ giá nào anh yêu cầu. Tôi muốn có ngôi nhà này vào mùa hè… Ồ, hãy tha lỗi cho tôi. Tôi làm việc quá nhiều với mấy tay kiến trúc sư bất tài. Tôi chưa hỏi xem liệu anh có muốn làm việc này hay không.”

Tay Roark cử động trước; anh kéo nó ra khỏi bàn.

“Có,” Roark nói. “Tôi sẽ làm việc này.”

Wynand nhìn thấy những dấu vân tay hiện trên mặt kính – chúng hằn rõ như thể da bàn tay của Roark đã khắc sâu vào mặt kính, và những vệt khắc đều ướt.

“Anh cần bao nhiêu thời gian?” Wynand hỏi.

“Ông sẽ có ngôi nhà vào tháng Bảy.”

“Tất nhiên là anh phải nhìn thấy khu đất. Tôi muốn tự mình dẫn anh đi xem. Tôi có thể đưa anh tới đó vào sáng mai không?”

“Nếu ông muốn.”

“Có mặt ở đây lúc chín giờ.”

“Được.”

“Anh có muốn tôi thảo hợp đồng không? Tôi không biết anh muốn làm việc theo cách nào. Về nguyên tắc, trước khi làm việc với bất kỳ ai về bất kỳ vấn đề gì, tôi luôn tìm hiểu mọi thứ về anh ta kể từ ngày anh ta ra đời hoặc sớm hơn nữa. Tôi lại chưa bao giờ tìm hiểu về anh. Đơn giản là tôi quên mất. Nó có vẻ không cần thiết.”

“Tôi có thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào ông muốn hỏi.”

Wynand mỉm cười và lắc đầu:

“Không. Tôi không cần hỏi gì anh cả. Ngoại trừ về các điều khoản hợp đồng.”

“Tôi không bao giờ có điều kiện gì ngoại trừ một điều: nếu ông chấp nhận bản phác thảo của ngôi nhà, thì ông phải để tôi xây dựng nó đúng như bản thiết kế mà không có bất kỳ thay đổi nào.”

“Tất nhiên rồi. Tôi hiểu điều đó. Tôi đã nghe rằng nếu không như vậy thì anh sẽ không làm. Nhưng anh sẽ không phản đối nếu tôi không công bố chuyện này chứ? Tôi biết điều đó sẽ có lợi cho sự nghiệp của anh, nhưng tôi muốn công trình này tránh xa khỏi báo chí.”

“Tôi không quan tâm đến điều đó.”

“Anh hứa sẽ không công bố ảnh của công trình này chứ?”

“Tôi hứa.”

“Cám ơn anh. Tôi sẽ đền bù cho anh về việc này. Ông có thể coi các tờ báo của Wynand như là cơ quan báo chí của cá nhân anh. Tôi sẽ lăng-xê bất kỳ công trình nào khác của anh mà anh muốn.”

“Tôi không muốn bất kỳ sự lăng-xê nào.”

Wynand cười to. “Anh thật khéo chọn chỗ để nói điều đó! Tôi không nghĩ là anh biết những kiến trúc sư khác – đồng nghiệp của anh – sẽ thực hiện buổi phỏng vấn này như thế nào đâu. Tôi không tin là trong suốt cuộc phỏng vấn, anh ý thức được rằng anh đang nói chuyện với Gail Wynand.”

“Tôi có ý thức điều đó,” Roark nói.

“Đây là cách tôi cảm ơn anh. Không phải lúc nào tôi cũng muốn là Gail Wynand.”

“Tôi biết điều đó.”

“Tôi đổi ý rồi và tôi muốn hỏi anh một câu hỏi cá nhân. Anh đã nói là anh sẽ trả lời bất kỳ câu hỏi nào.”

“Tôi sẽ.”

“Anh có luôn thích là Howard Roark?”

Roark mỉm cười. Nụ cười vừa thích thú, vừa ngạc nhiên, lại có vẻ coi thường một cách bất tự giác.

“Anh đã trả lời rồi,” Wynand nói.

Rồi ông đứng dậy, chìa tay ra và nói: “Chín giờ sáng ngày mai.”

Khi Roark đã đi khỏi, Wynand ngồi xuống bên bàn làm việc và mỉm cười. Ông với tay tới một trong các nút bấm bằng nhựa – và dừng lại. Ông nhận ra rằng ông phải sắm một dáng vẻ khác, dáng vẻ thường ngày của ông; rằng ông không thể nói như ông đã nói trong nửa giờ qua. Rồi ông hiểu điều kỳ lạ của cuộc phỏng vấn này: lần đầu tiên trong đời, ông đã nói chuyện với một người mà không có cảm giác miễn cưỡng hay áp lực, không cần phải che đậy như ông luôn cảm thấy khi nói chuyện với người khác. Không hề có sự kiềm chế, và cũng không có nhu cầu phải kiềm chế; như thể ông đã nói chuyện với chính mình.

Ông bấm nút và nói với cô thư ký:

“Bảo phòng tài liệu chuẩn bị cho tôi tất cả mọi thứ về Howard Roark.”

*

* *

“Đoán đi,” Alvah Scarret nói bằng giọng cầu xin người khác hãy cầu xin thông tin của mình.

Ellsworth Toohey xua tay vội vàng như thể muốn đuổi khách đi; ông không rời mắt khỏi bàn làm việc.

“Đi đi Alvah. Tôi đang bận.”

“Không, chuyện này rất thú vị, Ellsworth. Thật đấy, rất thú vị. Chắc chắn ông sẽ muốn biết.”

Toohey ngẩng đầu và nhìn Scarret; sự khó chịu thoáng qua trong khóe mắt của ông làm cho Scarret hiểu rằng Toohey đang chiếu cố. Ông kéo dài giọng vẻ kiên nhẫn:

“Được rồi. Chuyện gì nào?”

Scarret không phật ý với thái độ của Toohey. Toohey luôn xử sự với ông như vậy trong suốt một năm vừa rồi và thậm chí lâu hơn thế. Scarret không nhận thấy sự thay đổi – đã quá muộn để cảm thấy phật lòng. Thái độ ấy đã trở nên bình thường với cả hai người.

Scarret mỉm cười như thể một học sinh xuất sắc đang trông đợi được cô giáo khen vì đã phát hiện ra một lỗi trong cuốn sách giáo khoa của cô giáo.

“Ellsworth, nhân viên FBI riêng của ông đang bị qua mặt.”

“Anh đang nói gì thế?”

“Tôi dám cá rằng ông không biết Gail vừa mới làm gì đâu – và ông luôn luôn muốn mình là người biết mọi tin tức nhỉ.”

“Tôi không biết cái gì?”

“Đoán xem ai đã ở trong văn phòng ông ta hôm nay.”

“Alvah thân mến của tôi, tôi không có thời gian cho mấy trò đánh đố.”

“Có cho ông cả nghìn năm ông cũng sẽ không đoán được đâu.”

“Được thôi, bởi vì cách duy nhất để đuổi cổ anh ra khỏi đây là đóng vai một thằng hề, tôi sẽ hỏi một câu thích hợp đây: Ai đã ở văn phòng của Gail ngày hôm nay?”

“Howard Roark.”

Toohey quay hẳn sang phía Scarret, quên mất là mình đang bố thí sự quan tâm, và thốt lên một cách ngờ vực.

“Không thể thế được!”

“Có đấy!” Scarret nói với vẻ tự mãn khi nhìn thấy phản ứng của Toohey.

“Ồ!” Toohey phá lên cười.

Scarret cười nửa miệng; ông bối rối và băn khoăn khi phụ họa mà không thực sự hiểu nguyên nhân của sự thích thú này.

“Ừ, thật buồn cười. Nhưng mà… chính xác thì tại sao hả Ellsworth?”

“Ôi Alvah, để giải thích cho anh thì mất nhiều thời gian lắm!”

“Tôi có một ý kiến có thể…”

“Anh không có khả năng nhận biết những thứ vĩ đại à, Alvah? Anh có thích pháo hoa không? Nếu anh muốn biết điều gì sắp xảy ra, hãy nhớ rằng cuộc chiến tranh tồi tệ nhất là chiến tranh tôn giáo giữa các giáo phái của cùng một tôn giáo hoặc là cuộc chiến tranh giữa con người cùng một sắc tộc.”

“Tôi không thực sự theo kịp những gì ông đang nói.”

“Ồ anh bạn, tôi có quá nhiều người đi theo rồi. Tôi phải đuổi bớt đi ấy chứ.”

“Được rồi, tôi mừng là cái tin này làm ông thấy vui, nhưng tôi nghĩ đó là tin xấu.”

“Tất nhiên đó là tin xấu. Nhưng không phải đối với chúng ta.”

“Nhưng xem nhé: ông biết rõ là chúng ta đã khăng khăng tuyên bố - nhất là ông – về chuyện tay Roark này là kiến trúc sư tồi nhất trong thành phố. Và nếu bây giờ sếp của chúng ta lại thuê hắn – chả nhẽ chuyện đó không xấu hổ à?”

“À chuyện đó à?... Cũng có thể…”

“Được rồi, tôi mừng là ông thấy thế.”

“Thế hắn ta đã làm gì trong văn phòng của Gail? Có vụ làm ăn gì à?”

“Đấy là cái tôi không biết. Không tìm ra được lý do. Không ai biết cả.”

“Gần đây anh có nghe thấy ông Wynand có kế hoạch xây dựng cái gì không?”

“Không. Thế còn ông?”

“Không. Tôi đoán rằng nhân viên FBI của tôi đúng là đang bị qua mặt. Chà, ai cũng chỉ có thể cố đến mức độ nào đó thôi.”

“Nhưng ông biết không, Ellsworth, tôi có một ý kiến. Tôi nghĩ là chuyện này có thể rất có lợi cho chúng ta.”

“Như thế nào?”

“Ellsworth, thời gian qua Gail thật là khác thường.”

Scarret thốt ra điều đó với vẻ nghiêm trọng, như thể ông ta đang tiết lộ một phát hiện mới. Toohey ngồi yên và cười nửa miệng.

“Ồ, tất nhiên là ông đã đoán trước được điều này, Ellsworth. Ông đã đúng, luôn luôn đúng. Tôi thề là tôi không thể hiểu được chuyện gì đang xảy ra với ông ấy, không biết đó là do Domonique, hay một thay đổi nào đó trong cuộc sống, nhưng chắc là có điều gì đó đang xảy ra. Tại sao ông ta đột nhiên nổi hứng và bắt đầu đọc từng dòng của tất cả các bản in thử khốn kiếp, rồi làm toáng lên vì những chuyện ngớ ngẩn nhất? Gần đây ông ấy đã hủy ba bài xã luận hay nhất của tôi – mà ông ấy chưa bao giờ làm thế với tôi. Chưa bao giờ. Ông có biết ông ấy nói gì với tôi không? Ông ấy nói: ‘Bổn phận làm mẹ là điều thiêng liêng, Alvah, nhưng vì Chúa, hãy bơn bớt những chuyện nhảm nhí của anh. Đầu óc người ta cũng chỉ sa đọa được đến một giới hạn nhất định.’ Sa đọa nào? Đó là bài xã luận về Ngày cho Mẹ ngọt ngào nhất mà tôi từng viết. Thành thật mà nói chính tôi đọc cũng thấy cảm động. Ông ta học được cách nói về sự sa đọa từ bao giờ thế không biết? Một hôm khác, ông ta gọi Jules Fougler là đồ trí thức rẻ tiền, gọi thẳng vào mặt ông ấy, và ném bài viết cho số báo Chủ nhật của ông ấy vào sọt rác. Đó cũng là một bài đặc sắc, viết về Rạp hát của công nhân. Jules Fougler, cây bút xuất sắc nhất của chúng ta! Thảo nào mà Gail chẳng còn bạn bè trong tòa soạn. Lúc trước họ đã ghét thái độ của ông ấy rồi, bây giờ thì ông cứ nghe mà xem!”

“Tôi đã nghe rồi.”

“Ông ấy đang xuống dốc, Ellsworth ạ. Tôi không biết tôi sẽ làm gì nếu không có ông và những người xuất sắc ông đã chọn. Giờ thì hầu như họ là tất cả đội ngũ đang làm việc thực sự ở đây, những chàng trai ông chọn, chứ không phải là những con bò già nữa – đằng nào họ cũng hết thời rồi. Bọn trẻ đó sẽ làm cho tờ Ngọn cờ này còn sống. nhưng còn Gail… Nghe này, tuần trước ông ta đã sa thải Dwight Carson. Chà, ông biết đấy, chuyện này rất hệ trọng. Tất nhiên Dwight chỉ là một kẻ vô tích sự và là một gánh nặng khốn kiếp, nhưng anh ta đã là một trong những con thú cảnh đầu tiên của Gail – cái bọn nhóc đã bán cả linh hồn cho ông ấy. Vì thế, ông thấy đấy, theo một cách nào đó thì tôi vẫn thích có Dwight ở đây; chuyện đó tốt, chuyện đó chả sao cả, nó là tàn tích về thời sung sức của Gail. Tôi luôn luôn nói rằng đó là cái van an toàn của Gail. Và khi ông ta đột ngột để cho Carson đi… tôi không thích điều này, Ellsworth. Tôi không thích một tí nào cả.”

“Chuyện gì thế này, Alvah? Anh đang kể cho tôi những chuyện mà tôi không biết, hay là anh đang mở van xả hết các thứ - bỏ qua cho tôi vì cái ẩn dụ này – lên đầu tôi?”

“Tôi đoán vậy. tôi không thích chỉ trích Gail nhưng tôi phát điên quá lâu và tôi mệt mỏi lắm rồi. Nhưng đây là cái mà tôi đang định nói là: Cái tay Howard Roark này, hắn đang làm ông nghĩ tới điều gì?”

“Tôi có thể viết cả một cuốn sách về điều đó đấy Alvah. Bây giờ không phải lúc thích hợp để bàn một chuyện to lớn đến thế.”

“Không, ý tôi là điều cơ bản nhất mà chúng ta biết về anh ta là gì nào? Rằng anh ta là một kẻ lập dị, một con quái vật và một gã ngu xuẩn – được rồi – nhưng còn gì nữa? Rằng anh ta là một gã ngốc mà người ta không thể mua chuộc bằng tình ái, tiền bạc hay bằng cách dí súng vào đầu. Anh ta tệ hơn cả Dwight Carson, tệ hơn tất cả những con thú cảnh của Gail cộng lại. Đúng vậy không? Ông đã hiểu ý tôi chưa? Rồi Gail sẽ làm gì khi ông ấy gặp một kẻ như vậy?”

“Một số khả năng có thể xảy ra.”

“Chỉ một khả năng duy nhất, nếu như tôi hiểu về Gail, mà tôi thì hiểu ông ta. Đó là lý do vì sao mà tôi cảm thấy có một chút hy vọng. Roark là thứ ông ta cần – và cần từ lâu rồi. Một liều thuốc cũ. Chiếc van an toàn. Ông ấy sẽ lại xông ra bẽ gãy xương sống của hắn ta… và điều đó sẽ tốt cho Gail. Điều tốt nhất trên thế giới này. Làm cho ông ta trở lại bình thường… Đó là ý kiến của tôi, Ellsworth.”

Scarret chờ đợi, nhưng không nhìn thấy sự tán thưởng nào trên khuôn mặt Toohey nên ông kết thúc một cách rầu rĩ: “Chà, cũng có thể tôi sai… Tôi không biết… Chuyện đó có thể chẳng có ý nghĩa gì cả… Tôi nghĩ đó là vấn đề tâm lý…”

“Nó là vấn đề tâm lý, Alvah.”

“Vậy là ông đang nghĩ mọi chuyện sẽ diễn ra như thế?”

“Có thể. Hoặc có thể sẽ tồi tệ hơn bất kỳ cái gì anh đang tưởng tượng. Nhưng điều đó cũng chẳng còn quan trọng gì đối với chúng ta. Bởi vì anh thấy đấy, Alvah, đối với tờ Ngọn cờ, nếu đến một lúc nào đó mà chúng ta phải tay bo với sếp của chúng ta, thì lúc ấy chúng ta cũng không còn phải sợ ngài Gail Wynand nữa rồi.”

*

* *

Khi cậu bé của phòng tư liệu bước vào và mang theo một phong bì dày chứa các bài báo rời, Wynand ngẩng đầu lên nhìn cậu ta và nói:

“Nhiều thế à? Tôi không biết anh ta nổi tiếng đến thế.”

“Ồ, các bài báo về phiên tòa về Stoddard, thưa ngài Wynand.”

Cậu bé ngừng lại. Chẳng có gì sai cả… chỉ có những nếp nhăn trên trán của Wynand và cậu chưa biết nhiều về Wynand để có thể hiểu những nếp nhăn đó có nghĩa gì. Cậu băn khoăn không biết điều gì đã làm cậu cảm thấy cậu nên sợ hãi. Một giây sau, Wynand nói:

“Được rồi, cám ơn.”

Cậu bé đặt phong bì này lên trên mặt bàn và đi ra ngoài.

Wynand ngồi ngắm nhìn cái phong bì màu vàng căng phồng. Ông thấy nó phản chiếu trong tấm kính, cứ như thể gói báo ấy đã ăn qua mặt kính và cắm rễ xuống bàn. Ông nhìn những bức tường quanh phòng và tự hỏi liệu chúng có chứa một sức mạnh nào đó có thể cứu ông khỏi việc mở cái phong bì đó.

Rồi ông ngồi thẳng dậy, đặt hai cẳng tay thành một đường thẳng dọc theo mép bàn, những ngón tay duỗi dài chạm vào nhau; ông cụp mắt xuống, nhìn vượt qua cánh mũi xuống mặt bàn. Ông ngồi một lát, trang nghiêm, kiêu hãnh, bình tĩnh như xác ướp góc cạnh của môt Pha-ra-ông; rồi ông nhấc một tay lên, kéo cái phong bì lại phía mình, mở ra và bắt đầu đọc.

Tội báng bổ thánh thần của Ellsworth M. Toohey – Những nhà thờ của tuổi thơ chúng ta của Alvah Scarret – những bài xã luận, bài thuyết giáo, các bài phát biểu, bản tuyên bố, thư gửi ban biên tập, những trang lớn đổ thêm dầu vào lửa của tờ Ngọn cờ, những bức ảnh, tranh biếm họa, bài phỏng vấn, phản thuyết về biều tình phản đối, các lá thư gửi ban biên tập.

Ông đọc từng từ một cách cẩn thận, tay ông đặt trên cạnh bàn, các ngón tay chạm nhau không cầm đến các mẫu báo, không chạm vào chúng. Ông để nguyên chồng báo để đọc. Ông chỉ nhấc tay lên để lật một bài báo ra và đọc bài ở dưới, tay ông chuyển động với sự chính xác về thời gian của một cỗ máy, những ngón tay nhấc lên cùng khoảnh khắc với việc mắt ông đọc đến từ cuối cùng; ông không để cho bài báo nào nằm trong tầm mắt lâu hơn cần thiết. Nhưng ông dừng lại một lúc lâu để nhìn những bức ảnh của Đền Stoddard. Ông dừng lại lâu hơn để ngắm một trong những bức ảnh của Roark, cái ảnh được chú thích Ngài hạnh phúc chứ, thưa Ngài Siêu Nhân? Ông xé bức ảnh ra khỏi bài viết đi kèm và đút nó vào ngăn kéo bàn làm việc. Rồi ông lại tiếp tục đọc.

Phiên tòa… lời cung của Ellsworth M. Toohey… của Peter Keating… của Ralston Holcombe… của Gordon L. Prescott… - không thấy có trích dẫn lời chứng trước tòa của Dominique Francon, chỉ có một báo cáo ngắn gọn. “The defense rests.” Một vài đề cập trong chuyên mục Một ý kiến nhỏ… sau đó là một khoảng trống… tập báo tiếp theo ghi ngày tháng của ba năm sau đó – về Thung lũng Monadnock.

Khi ông đọc xong, trời đã tối. Các thư ký của ông đã đi về. Ông cảm thấy sự hiện diện của những căn phòng và tiền sảnh trống không ở xung quanh ông. Nhưng ông nghe thấy âm thanh của những chiếc máy in: những rung động trầm đục, dài và chạy xuyên qua mọi căn phòng. Ông đã luôn thích cái âm thanh đó – tiếng trái tim của cả tòa nhà đang đập. Ông lắng nghe. Chúng đang đập cho số báo ngày mai của tờ Ngọn cờ. ông ngồi bất động một lúc lâu.

Bình luận