Một Giọt Từ Sự Đọa Đầy

Đạo Đức Thẳng Thừng Và Lương Tâm Cắn Rứt


(Trích tiểu luận triết học: Patmosz I)

1.

Con người quả là vô tích sự. Kẻ trong trắng thì vô học, kẻ có học thì hư hỏng. Trước kẻ trong trắng cần phủ nhận tri thức, trước kẻ có học cần phủ nhận sự trong trắng. Con người quả thật vô tích sự.

Tôi tuyệt đối không đồng tình khi có người cho rằng đấy là điều bắt buộc của cái thế gian độc lập với chúng ta. Có thể rơi tự do không phụ thuộc vào ta, dù chống lại quan điểm này tôi cũng có ý kiến riêng. Nhưng tôi hoàn toàn phản đối nếu ai đó bảo chúng ta vô tội trong việc tạo ra cái thế gian này.

Tôi nghi ngờ không chỉ trong ý nghĩ mà trong cả sự kính trọng, với kẻ còn phân vân, rằng thế gian này chúng ta đã tạo ra và đang tiếp tục làm ra. Còn bảo thế gian vẫn như nó có, tôi không chấp nhận từ bất cứ ai và theo kiểu gì. Thế gian không nhất thiết cần phải như thế và sẽ như thế.

Sự phục tùng chưa bao giờ xảy ra bằng một quyết định. Hiếm người như Richard III. Richard III là người cố tình biến mình thành một vai phản diện: to be a vilain - bây giờ ta sẽ là một kẻ bất lương.

Những quyền lợi kinh tế và xã hội đã được đề xuất trước trên con dốc bẩn thỉu, và sự thỏa mãn chúng chỉ có thể xảy ra bằng những món nợ của chất lượng đạo đức. Bước đầu chỉ là ngoại lệ, tất cả mọi người chỉ làm đúng một lần. Và không bao giờ làm nữa. Dễ hiểu. Con người thấy, có thể trốn vào một nơi vô nghĩa với thu nhập sát mức sống tối thiểu, và sự trong trắng của họ được gìn giữ.

Nhưng lúc đó cần phải từ bỏ đống của cải vô cùng quyến rũ. Bởi vì họ cũng nhìn thấy, mọi đặc ân vượt quá những vô nghĩa cộng đồng và mức sống tối thiểu, không cần trả bằng lao động mà bằng việc giải quyết các vấn đề đạo đức. Không có cách khác.

Trước mắt ít nhất có một điều sai, rằng cơ sở của mọi hoàn cảnh xã hội và thu nhập tốt là sự từ bỏ các giá trị đạo đức. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, thu nhập quá mức sống tối thiểu và khả năng thử bước ra mọi sự vô nghĩa trên đời không dựa trên kết quả lao động thật sự, mà phụ thuộc vào việc thích nghi với sự hư hỏng, sự tha hóa.

Lao động tuyệt đối không được trả tiền, hoặc có, rất tồi tệ. Nói chung người ta trả công phù hợp, đôi khi rất khá, chỉ để con người có khả năng hiện thực hóa mức độ nào đấy của sự hư hỏng.

Vậy, chỉ có hai trường hợp - chấp nhận nghèo khổ, dấn thân vào vô danh và từ bỏ tất cả mọi khát vọng quyền lực, hoặc to be a villain - cho phép tác động của ma quỷ nhập vào mình bằng một khái niệm độc ác.

Điều đáng buồn trong toàn bộ, là kẻ phục tùng ít khi trở thành kẻ ác, phần lớn chỉ dại khờ và tiếp tay. Cái mà con người phạm phải ở đây không phải là tội. Trong tội ác, Bataille nói, luôn luôn có một cái gì đó hấp dẫn. Còn việc này hoàn toàn vô nghĩa. Tội ác có độ sâu của nó, con người vấy bẩn từ đó. Có kẻ hèn mọn hơn lũ cướp, kẻ kí sinh trùng. Kẻ làm điều này, mang trong bản thân nó sự tồn tại đã tan vỡ.

Đối với một người bất tài đây không phải cú sốc đặc biệt cho lắm. Nó chẳng có gì để mất.

Kẻ nào càng thấp cổ bé họng, càng ít nhu cầu, càng tự coi mình không ra gì, đúng hơn, càng ngu ngốc và chơi vơi, kẻ đó càng dễ dàng chịu đựng sự hư hỏng bấy nhiêu. Kẻ bất tài đầu hàng, cái còn lại ở nó chỉ là thói quen. Người nào càng có tài, sự phục tùng càng bi thảm. Dấu hiệu của khát vọng cao cả là ngoài sự thật ra, những thứ khác rất khó chịu đựng.

Sau bước đầu tiên, dù ngoại lệ đến đâu, khó có thể dừng lại. Khả năng đồng hóa của con người là vô tận. Haeckel nói, nếu không cháy ra tro, con người có thể chịu đựng đến cả địa ngục sau vài tiếng đồng hồ. Con người chạy hết con đường đến tận cùng dưới những thời điểm khác nhau. Nhưng nếu nó từ bỏ sự trong trắng hiện sinh, sự chống trả ngày càng yếu.

Sự hèn kém biến thành nhấn tố thường xuyên, cho đến khi chuyển thành chủ nghĩa (izmus). Sau đó tùy mỗi người sắp xếp sự hư hỏng ngắn hoặc dài hơi (hoặc sau một lần, tính luôn cho cả chế độ sắp tới), sử dụng những kì công kĩ thuật sống khác nhau, dùng một vẻ ngoài đáng tin (thường để đánh lừa) với hi vọng, sự gian dối này trường cửu. Thậm chí còn có thể giả vờ đau khổ.

Nếu một kẻ tiến thủ về mặt xã hội và giàu lên về mặt kinh tế, lương tâm của nó thường không yên ổn. Lương tâm là một nỗi ám ảnh đặc thù. Có thể nói, lương tâm đối lập chính xác với thế gian. Lương tâm không thực dụng, và đặc biệt không duy vật. Ngoài ra, lương tâm tuyệt đối không giấu giếm tất cả những điều này.

Trong nó không có chủ nghĩa cơ hội, nó không là kẻ hợp lí, không hề là một chính trị gia thực tiễn, đến mức không cả tính táo. Bản năng chiến thuật của nó bằng không, nó không coi trọng sự giàu sang, đừng nói đến danh vọng. Lương tâm không bao giờ thích nghi, không bắt được nó thích nghi, và nếu con người thích nghi, lương tâm trong trường hợp này chính là mâu thuẫn của họ.

Kẻ phục tùng không có lương tâm yên ổn. Đấy là điều chắc chắn. Lương tâm cắn rứt trước tiên là việc riêng. Con người bắt buộc chứng minh mình trước lương tâm. Bên cạnh sự thích nghi, con người cần đưa ra các lí lẽ, cần bảo vệ bản thân trước lương tâm. Và nếu sự thích nghi vẫn tiếp tục, hành vi biện chứng dùng để chống lại lương tâm sẽ trở nên sâu đậm, và con người cần đến sự chống trả thường xuyên.

Ban đầu, cũng đủ nếu người ta dựa vào những lí do sinh tồn. Sau đó người ta mang hoàn cảnh gia đình ra để biện bạch. Sau cùng con người bắt đầu xây dựng (cái gọi là) thế giới quan. Trong nhiều trường hợp thế giới quan này trở thành tôn giáo. Vậy là theo thứ tự, con người không chỉ nói dối, mà còn phải chứng minh là nó đúng.

Đây không phải là: chứng loạn thần kinh của miếng ăn hằng ngày. Nếu chỉ có thế chúng ta đã dễ dàng hiểu nhau. Người ta xây dựng các thế giới quan không vì quyền lợi của sự thật, mà để chống lại một lương tâm cắn rứt. Thế giới quan là căn nhà trí thức, trong đó con người giấu sự sợ hãi run rẩy của nó.

Kẻ thích nghỉ cho rằng, sự hư hỏng của nó không thể nhìn thấy từ bên ngoài. Thực chất, sự hư hỏng của nó thể hiện ngay từ vẻ bên ngoài. Ngay từ xa, từ sau lưng, từ hành vi cử chỉ, từ bước đi của nó mọi người đều thừa biết công danh của nó bắt đầu như thế nào, nó đã đi đến đâu và đang chuẩn bị cái gì.

Đặc biệt có một kẻ nhận ra ngay những điều này. Đấy là kẻ lần theo dấu vết sự Thích Nghi của nó. Lương tâm cắn rứt mè nheo, mè nheo một cách đạo đức rằng nó không có ý định thích nghi, và buộc con người phải đi đến một quan điểm đạo đức thẳng thừng.

Đạo đức thẳng thừng không là sự phản chiếu của lương tâm cắn rứt. Một đại diện cho bản án đạo đức chống lại sự thích nghi với hư hỏng. Dù đấy là bất kì ai, nhưng chắc chắn, kẻ này không tham dự việc thích nghi, nó từ bỏ thế gian một cách có ý thức hay bị rơi ra bởi không thể sống nổi, không thể biết chắc chắn.

Nhưng, chính vì thế kẻ này cần từ bỏ luôn cả của cải vật chất. Và không chỉ của cải. Phải đứng ngoài thế gian, đúng hơn đứng ra ngoài xã hội. Kẻ mang đạo đức thẳng thừng đánh mất không chỉ hi vọng sống một đời người, mà mất luôn cả khả năng sống cùng những người khác nữa. Và, vì nó thua trận, nên dù muốn hay không, nó vẫn cần nhớ điều đó.

Kẻ nào thích nghi, sống tiếp, dù đời sống của nó dơ bẩn đến đâu, vẫn thu thập của cải, kể cả bằng lương tâm cắn rứt dí chăng nữa, và vẫn sống cùng với những người khác. Kẻ nào không thích nghi, cho dù từ sự ghê tởm, hay từ những nguyên nhân khác, vẫn bị loại khỏi cộng đồng, trong một đối thoại trừu tượng, như thể một kẻ đối lập hoặc một kẻ bị buộc tội.

Kẻ phục tùng từ bỏ bản chất của mình trong sự thích nghi, sau cùng đánh mất luôn bản chất. Kẻ không phục tùng giữ lại bản chất của mình, nhưng không biết làm gì với bản chất ấy, bởi đứng một mình.

Một người nào đó hoặc sống, nhưng cái giá của đời sống là sự nhúng chàm, hoặc không muốn bị nhúng chàm, lúc đó buộc phải từ bỏ đời sống.

Đấy là đạo đức thẳng thừng và lương tâm cắn rứt.

Khoảng cách giữa lương tâm cắn rứt và đạo đức thẳng thừng không thể đo được.

Lương tâm cắn rứt nằm trong sự chiếm hữu thế gian.

Đạo đức thẳng thừng nằm trong sự cô độc, trong trạng thái bị bỏ rơi vì sự thật.

Có những người cảm thấy rất dễ chịu trong đạo đức thẳng thừng. Kẻ này ngây ngất với niềm xúc động đứng ngoài sự hư hỏng và có quyền lên án. Thật là chiến công đặc biệt khi con người nghiến răng. Tránh xa ra! Trở nên nghèo khó và bị vùi dập! Không ai chịu đựng nổi thiếu những vết thương sâu.

Đạo đức thẳng thừng là mảnh đất nuôi dưỡng sự nổi loạn và cách mạng. Tất cả những kẻ nổi loạn và người cách mạng đều đứng trên nền tảng của đạo đức, và đó là đạo đức thẳng thừng.

Sự phục tùng không là một hành động phạm tội, mà là một sự bê bối, nhục nhã. Kẻ thích nghi không là kẻ độc ác, nhưng là kẻ bất lương. Bởi vậy chỗ của nó không ra đứng trước tòa án, mà là việc đi kích động. Sự kích động này là mầm mống của sự nổi loạn. Không ai tránh khỏi việc đòi trả thù. Và khi trả thù nổ ra, thế là có cách mạng.

Cách mạng không do kẻ nổi loạn gây ra mà sự hư hỏng làm ra kẻ nổi loạn. Kẻ nổi loạn không là lương tâm cắn rứt nổi lên vì đời sống hư hỏng, mà là sự căng thẳng của con người bị loại trừ khỏi cộng đồng và loại trừ khỏi của cải cướp được của đời sống.

Người cách mạng tưởng sự thật chắc phải thuộc về những người nghèo khổ. Nhưng trong giây phút người cách mạng chiếm được và bắt đầu điều chỉnh thế gian, họ lập tức sở hữu và bảo vệ của cải, lương tâm cắn rứt trong người ho thức tính, và đạo đức thẳng thừng ngay lập tức mè nheo.

Chưa bao giờ khi cách mạng nổ ra, công thức này lại không lặp lại đúng như thế. Vô ích họ tiếp tục tuyên bố các lí tưởng. Các lí tưởng lúc đó không phải là đạo đức thẳng thừng nữa mà là giọng điệu của lương tâm cắn rứt. Nếu người cách mạng lên nắm quyền lực, họ lập tức bắt cả thế gian khuất phục họ, và tất cả lại bắt đầu lại từ đầu.

Tự hiện thực hóa bản thân là trách nhiệm xác thực của con người, nhiệm vụ này cần đến toàn bộ sức mạnh của đời sống, nhưng phần lớn kết quả chỉ là từng mảng đời sống. Thật đáng sợ, nhưng đúng vậy. Dù sao, tự hiện thực hóa bản thân đã từng và vẫn là vinh quang của đời sống.

Kẻ phục tùng không chấp nhận trách nhiệm bắt buộc này (engagement authentique). Nó không hiểu tại sao phải gánh chịu. Có thể vì nhiệm vụ này quá lán. Thế gian chính là con người, nên dấn thân vào hư hỏng không dễ. Nếu đã không thể là mình, ít nhất hãy nghiến ngấu tất cả những gì có thể.

Nó không dám thú nhận, kết cấu thế gian là như thế, bắt buộc phải nhân nhượng. Nhưng nó chỉ nhân nhượng đủ cần thiết duy trì sự sống của nó mà thôi. Thế mới nguy. Nếu nhân nhượng thế gian như vậy, nó sẽ coi và để điều này như một hành động ngoại lệ, để việc làm của mình rơi vào vô nghĩa; còn bản thân nó vẫn ở bên ngoài, để giá mà giữ được vị trí ban đầu.

Nó không dám nói dối công khai, nó biết điều này, và chịu đựng. Hành động duy nhất của kẻ phục tùng có thể cứu vãn, nếu không bị buộc vào thực hành lã thuật sống, khiến lương tâm cắn rứt bắt nó phải chứng minh hành động hư hỏng trước bản thân, và cố gắng đừng coi là đúng với sự dẫn dắt biện chứng của quan điểm.

Kẻ nào từ bỏ bản thân, kẻ đó không bao giờ thoát khỏi ai đã nhìn thấy tất cả những điều đó.

Emmanuel Mounier đã đánh dấu hình thức của hành động bằng bốn điểm. Theo bốn điểm này mọi hành động:

Là sự biến đổi hiện thực bên ngoài.

Là sự hình thành cá nhân con người.

Đem con người lại gần con người hơn.

Làm tăng thế giới của các giá trị.

Sự phục tùng đo từ các mức độ tầm vóc như sau:

Làm biến đổi thế giới bên ngoài không theo hướng tích cực mà theo hướng tiêu cực, đúng hơn không làm thế giới bên ngoài trong sạch hơn mà hỗn loạn hơn.

Sự phục tùng làm tha hóa, làm mất tinh thần cá nhân con người.

Sự phục tùng tách con người khỏi con người.

Sự phục tùng không làm tăng các giá trị mà trái lại làm giảm đi.

Đấy là cái mà đạo đức thẳng thừng nhìn rõ nhất: Sự phục tùng lột trần con người ra khỏi hình dạng cội nguồn của nó, và tác động đến kết quả cuối cùng của đời sống.

Không ai tha thứ cho sự phục tùng điều này. Không bao giờ tồn tại và sẽ tồn tại sự Cao Cả từ phục tùng. Đây là một hiện sinh bi thảm hay đúng hơn, một hiện sinh bê bối, nhục nhã.

Còn đạo đức thẳng thừng đúng ra là sự điên rồ. Không gì nhục hơn phải chịu đựng sự phục tùng với kĩ năng sổng điêu luyện của nó đã chiếm lĩnh vũ đài như thế nào, nhân danh cái gì thò tay vào của cải của đời sống, chiếm lĩnh vị trí của đời sống, như thể tất cả là của nó không bằng, và dự phần vào thứ mà tất cả mọi người khác đều bị loại trừ,

Trong con người của kẻ không biết cần làm gì để chống lại điều này có đến hàng chục ngàn lần sự giận dữ tích góp từ nhiều đời. Trả thù. Sự trả thù, Nietzsche nói, là sự chống đối của ý chí chống lại thời gian.

Các nhà cảm tử quân đã nghỉ kĩ hay chưa, phải chăng không phải sự trả thù đang nung nấu trong lòng các ngài?

Ôi! Giá mà ai biến đổi nổi con người từ sự trả thù!

Sự phục tùng lột trần con người từ dạng hình cội nguồn của nó, và tác động đến kết quả đời sống của nó. Nhưng kẻ không phục tùng và không thích nghi, giữ lại lương tâm trong sạch và sự trong sáng của mình, giữ một đạo đức thẳng thừng, kẻ đó sẽ biến thành thiên thần của sự trả thù.

Đạo đức thẳng thừng bám chặt vào sự trong sạch anh hùng ca và khăng khăng một cách độc đoán. Đạo đức thẳng thừng không mang tính chất xã hội mà mang tính trọng tâm của chủ nghĩa cá nhân.

Bởi vậy khi sôi lên đùng đùng, nó không tạo ra cộng đồng mà tạo ra cách mạng. Đạo đức thẳng thừng, giống như lương tâm cắn rứt, từ bỏ sự cao cả. Đạo đức thẳng thừng tầm thường và mang tính chất ma quỷ.

Kẻ phục tùng bôi bẩn đời sống. Lương tâm cắn rứt là sự bất an của đời sống bị bôi bẩn. Đạo đức thẳng thừng là sự nhầm đường trong đời sống của một kẻ bị loại ra khỏi cộng đồng và bị tước mất của cải.

Sự phục tùng không thể tha thứ. Kẻ phục tùng cần quỳ gối van xin sự thật tha thứ cho lỗi lầm nó đã phạm. Còn nếu không, nó không về đến nhà.

Đạo đức thẳng thừng chỉ giải tỏa nếu tình thương yêu kêu gọi nó, vẫy gọi nó và đúng là nó đến gần tình thương yêu. Lúc đó nó có thể tránh khỏi lửa của địa ngục.

2.

Từ thế giới dùng trong hai nghĩa.

Một nghĩa là vũ trụ theo từ Hi Lạp, nghĩa thứ hai là một nơi sống của con người, nhưng không phải là cái nhà (thế gian).

Với thiên nhiên, hay với vũ trụ như người ta nói, không có vấn đề gì nghiêm trọng, kể cả với nhiệt độ, giá băng, nước lụt hay động đất đi chăng nữa. Cái luôn luôn có vấn đề là thế gian. Từng có những người sau một trận không kích, gặp mưa bão và khi nghe tiếng sấm, thấy chớp giật, họ đã khóc một cách nhẹ nhõm. Âm thanh của vũ trụ so với tiếng bom nổ mới an ủi làm sao.

Để tôi có thể tự hỏi mình - Gabriel Marcel nói - làm sao tôi có thể chấp nhận sự quấy nhiễu phá vỡ trí tuệ này?

Trong toàn bộ, cái đặc biệt nhất là thế gian tồn tại như thể tự nó, nhưng từ nó, khó có gì chấp nhận nổi. Môi trường, sự tăng trưởng tiếp tục của con người, thiên nhiên, xã hội, cộng đồng, nhà nước, những con người, các thời đại hay nền văn minh, khó chấp nhận nổi. Thế gian càng chung chung và to lớn, càng linh động và vững chắc so với tất cả, càng xa lạ, càng không thể nhận biết, càng đáng nghi ngờ và đáng sợ. Ở đây không ai có nơi nương thẩn.

Đây là một điều đặc biệt cần học để biết, bởi vì con người thực chất không biết chút gì về điều này. Thế gian đón chào trẻ sơ sinh ngay từ ngưỡng cửa nhưng giá mà trẻ sơ sinh biết nhỉ, nó chắc sẽ không ra đời. Thế gian là thứ cần phải làm quen, ngay từ rất sớm, từ trong nôi, là thứ đầy ải con người trong gia đình, là thứ bắt nó hùng hục trong trường học.

Hình ảnh về cuộc đời mà con người mang theo mình để ra đời trong niềm vui, hình ảnh đó ở tất cả mọi người giống nhau. Không có sự khác biệt. Hình ảnh cổ trong chúng ta về đời sống thật sự giống nhau. Hình ảnh này con người nghiêm chỉnh chấp nhận và gìn giữ, là thứ con người yếu quý và không sẵn lòng từ bỏ. Con người sinh ra bằng một niềm tin rằng trên thế gian họ sẽ có nhà và sẽ sống với xúc cảm sống mang theo mình.

Thay cho điều này, có lẽ ngay từ năm phút đầu tiên của cuộc đời, con người đã nhận ra không chỉ không thể sống nổi, mà toàn bộ sức lực của thế gian dường như tập trung lại để đe dọa và đào huyệt cho đời sống mới bắt đầu hé nở trong họ, vùi dập và bóp chết, nhấn đạp và làm tiêu tan họ.

Thời của các thiên tai lớn không gây ra nguy hiểm, bởi tất cả đều là các nguyên tử. Nếu núi lửa phun, sóng thần hoặc bão lốc, hoặc sao băng rơi, thế giới âm không chuyển động. Nhưng con người gặp hiểm nguy ngay trong một sự việc nhỏ nhất, nghĩa là một sự việc bé nhất với họ cũng đủ làm lay chuyển cả thế giới âm.

Một tia nhìn của ánh mắt xanh thiếu nữ có thể chứa đựng cả sự hiện diện sức mạnh ma quỷ của bóng tối. Thiên tai đi qua, con người hoàn hồn trở lại, nhưng ma quỷ bị đánh thức sẽ ở lại thế gian. Cái duy nhất con người có thể làm được là thích nghi. Nhưng nếu thích nghi, nó nằm trong sự nguy hiểm là sẽ đánh mất bản chất của mình. Không gì gần tự sát hơn là sự khuất phục thế gian, khi giết chết thân thể trong khoảnh khắc.

Trong truyền thống Trung Quốc và Nhật Bản, nhận thức về thế gian là một tri thức riêng. Thói quen, sân nhà, đường phố, công sở, mốt, chính trị, hiệu lực, giao tiếp, phép lịch sự, cách xưng hô. Họ biết một cách rõ ràng những điều này tựa hồ khác hẳn như nó cần phải thế, như nụ cười của người Trung Hoa, đến nỗi ngay phút đầu tiên tất cả mọi người phản đối chống lại nó một cách vô thức.

Học một thói quen không khó, mà khó là học cái thói quen giờ đã không là thói quen, mà là một cái gì khác. Đấy là thói quen không những không che đậy tính chất con người mà còn chỉ dẫn sai đường, trong nó có một cái gì đó xúc phạm không chịu nổi, thứ lột trần con người từ bản chất, sống là một việc khác và tồn tại trong thế gian là một việc khác. Hai điều này chưa hề ai lầm lẫn.

Người nào biết rõ thế gian là gì, sẽ cẩn thận khi bước vào với quan hệ thế gian. Người ta nói Trang Tử từ chối làm quan, và không nhận bất kì chức tước nào. Ngài đi theo những phương cách riêng để người ta để cho ngài yên.

Tránh mọi sự nổi bật, ngậm miệng lại, không ăn mặc khiêu khích, nhưng mặc đẹp cũng không, không ăn uống quá mức cần thiết, ở một cách giản dị và tập dưỡng bản thân. Khẽ khàng và biết rút lui, và đơn giản, cần như một kẻ khổ hạnh, đơn độc. Tuy nhiên.

Mi không thế sống như những vì sao.

Nơi một mặt là cái đói, mặt khác là sự xúc phạm, mặt khác nữa là công danh, mặt khác nữa là sự ghen tị, một mặt khác là sự hư hỏng, mặt khác nữa là sự trả thù, ở mặt này là lòng tin, ở mặt kia đối diện với sự nổi loạn, thế gian xuất hiện ở đấy.

Thế gian là sự căng thẳng của đạo đức thẳng thừng và lương tâm cắn rứt.

Thế gian là nơi, tất cả đều bị hỏng. Những ý đồ tốt đẹp giảm dần, những ý đồ xấu còn xấu hơn. Chưa bao giờ sự cao thượng bị méo mó đến thế, và sự nghiêm chỉnh chưa bao giờ bị biến thành nỗi vô nghĩa đến thế. Các nhà thông thái vĩ đại. Các tôn giáo. Các thánh.

Thế gian là chỗ của sự dối trá. Sự dối trá ở đây không phải là một đạo đức xấu xa mà là nền tảng xấu của đạo đức. Không phải là tội ác, mà là một cái gì từ đó xuất hiện tội ác.

Trước hết là sự hư hỏng hóa của người bình thường. Càng có vẻ dễ thương chừng nào càng ghê tởm chừng ấy. Như chinoiserie (sự pha trộn, bắt chước cổ điển Trung Quốc - ND), càng thân ái chừng nào càng đê tiện chừng ấy. Trên thế gian mọi cái đều khác so với chính nó, mọi người đều khác, so với chính họ.

Khổng Tử và Socrates cho rằng, nguyên nhân của mọi vấn đề là ngôn ngữ đã đánh mất ý nghĩa cội nguồn của nó. Người ta nghĩ một đằng nói một nẻo. Thế gian là nơi ngôn ngữ đã đánh mất ý nghĩa đích thực của nó. Nếu người ta lấy lại được ý nghĩa đích thực này, thế gian sẽ biển mất.

Sự giả dối không phải là tội ác, không xung đột với các quy luật đạo đức, nhưng cũng không phải là khuyết tật sinh học, vì vậy cũng không xung đột với các quy luật sinh học. Nó ở giữa hai thứ này, là một lĩnh vực đặc thù và riêng cũng như thế gian là lĩnh vực đặc thù và riêng giữa tự nhiên và đạo đức.

Bởi vậy, cái gì giả dối, giả vờ và đánh lạc hướng không phải điều xấu và bệnh tật, mà là sự lừa phỉnh (fals). Đấy là thứ làm người ta phải chịu đựng nhiều nhất. Trên lĩnh vực đặc biệt giữa tội ác và bệnh tật này không có hạng mục và quy luật. Nó là vị trí của hiện sinh. Nó là vị trí của thế gian. Nó đứng giữa thiên nhiên và tinh thần, là vị trí của sự hư hỏng và sự bất lương từ điểm nhạy cảm nhất của đời sống.

Pháp luật không biết chút gì về tất cả những điều này. Những bộ luật trừng phạt chĩa vào những con vật nguy hiểm, nhưng không nhận ra lũ vi trùng. Mặc dù, cái làm hỏng con người không phải là kẻ cướp.

Nietzsche cho rằng, và cũng nhiều người nghĩ như vậy, cái gọi là tội ác trong trạng thái của xã hội ngày nay thực chất ngày càng là một khả năng bùng nổ sau cùng, là thí nghiệm tuyệt vọng và tàn bạo để một kẻ nào đấy bò ra khỏi bờ vực của sự hư hỏng, và dù, cứ cho rằng bằng cái giá của sự giết người, nhưng còn lấy lại một sự trong sạch nào đấy, bed vì chịu đựng tội ác còn hơn cần im lặng sống trong sự bẩn thỉu và coi như không có việc gì xảy ra.

Những kẻ phạm tội, theo Nietzsche, trong xã hội ngày nay là những con người trong sạch, ít nhất là những kẻ khát khao sự trong sạch, và trong mọi trường hợp, một sát thủ thuần túy trong sạch hơn hẳn, so với những kẻ ví dụ như chính trị gia, kinh tế gia hãnh tiến, đặc biệt nếu ta thấy một sát thủ như vậy vẫn còn tự trọng và đáng thương so với một kẻ vì công danh của mình, cố tình chà đạp, phá tan từng mảnh những gì mang chất người, không gì hắn không phá vở và nhổ toẹt, không còn gì trong con người hắn, và hắn có thể mua tất cả với một giá bèo.

Dù đáng ngạc nhiên hay không, nhưng nhân tố rõ ràng là, giữa cái hiện sinh này, giữa đạo đức và sinh học, về những hành động bôi bẩn đời sống này chỉ có những dân tộc phát triển cao từ truyền thống mới hiểu nổi, như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp, Roma và gần đây nhất là Pháp và Anh.

Nếu đúng là có một định nghĩa về văn hóa, chỉ có thể: một dân tộc không chỉ đo lường, cái gì là đạo đức tốt và xấu, cái gì là lành mạnh và bệnh tật, mà còn đo lường cái gì thanh tẩy hoặc bôi bẩn đời sống chung của cộng đồng. Và đặc điểm đời sống của một dân tộc có văn hóa là có khả năng bảo vệ chống lại sự bôi bẩn này một cách có ý thức,

Sự nhạy cảm của hiện sinh này ờ Trung Quốc và Ấn Độ đã từng có, hiển nhiên, nhưng trong văn chương Hi Lạp và La Mã cũng đầy sự cảnh báo, rằng nguy hiểm trực tiếp đe dọa con người không phải các tội ác mà là một hiện sinh bị hư hỏng, tha hóa.

Ở Pháp là các nhà đạo đức, ở Anh là các nhà châm biếm đóng ở vị trí người lính canh, từ đó họ có thể để ý đến sự trong sạch của đời sống, và cảnh báo mọi người một cách khá sớm rằng muốn chống lại sự hư hỏng hãy bảo vệ con người.

Ngược lại ở các dân tộc và ở mọi thời đại, sự vô văn hóa thể hiện chính ở chỗ con người không được bảo vệ - không phải để chống lại tội ác mà luật pháp thường xử lý không liên tục - mà ở lòng tin của con người chống lại sự hư hỏng, ở chỗ không có sự đo lường mức độ thô bạo và sự vô ý vô tứ, sự chen chúc xô đẩy, bất lịch sự, sự bẩn thỉu cùng thói đạo đức giả, và những thói đê tiện khó xác định rạch ròi khác, những thứ đe dọa đời sống con người sâu sắc hớn nhiều so với tội ác.

Thiếu văn hóa trước tiên có nghĩa rằng con người không có sự bảo vệ trước sự giễu cợt và sự độc ác. Người ta không dạy cộng đồng hãy cô lập những điều này. Mọi người sợ chúng, cho phép chúng, và con người làm ngơ hoặc tránh sang một bên, thậm chí còn ngưỡng mộ chúng.

Tội ác đạo đức ở đây không nhiều hơn ởcác nơi khác, nhưng trình độ đời sống thảm hại một cách khủng khiếp.

Bởi vì tội ác là sự vi phạm dã man trật tự đạo đức, mà tất cả các dân tộc đều biết cách chống đỡ. Nhưng chống lại một hiện sinh hư hỏng bôi bẩn sự sống người thì một dân tộc phi văn hóa bất lực. Bất lực khi tuyệt vọng tiếp xúc với những kẻ xảo quyệt, những kẻ ma mãnh đen tối, những kẻ bốc phét to mồm, những quân vô lại luồn cúi và hợm hĩnh.

Sự sống giống như nước, ít nhất giống ở chỗ không chấp nhận bất cứ sự bẩn thỉu nào, trong một khoảng thời gian ngắn nhất, nước làm tan những chất liệu độc hại, chắt lọc và tiêu hủy. Đặc tính của các nguồn nước, các dòng suối, các hồ trên núi là người ta có vứt rác vào lòng nước của chúng, cách đấy vài bước chân nước vẫn uống được, và chỉ sau vài phút mức độ độc hại của rác biến mất không dấu vết.

Sự sống chịu được tất cả mọi bẩn thỉu và thanh tẩy tất cả thành trong sạch.

Ở Ấn Độ từ sự sống là szat. Dịch sát nghĩa là cái có. Nhưng cũng có nghĩa là tự tràn đầy, nhưng cũng có nghĩa là đơn giản và rạng ngời, có nghĩa là có như sự thật. Aszat nghĩa là cái không có, không tồn tại.

Bởi vậy người ta bảo ai đã nâng mình lên bước vào sự sống, người ấy không bao giờ có thể phạm tội, hoặc sai lầm, không thể nghĩ hoặc nói những gì không đúng hoặc không có. Trong sự sống tất cả trong sạch và đích thực, mọi thứ có thể in mọi dấu vết lên sự sống, nó hút hết như hút hơi nước trong không khí và bản thân nó còn lại không tì vết.

Sự sống là sự nhạy cảm và sự nhiễm bẩn vô hạn. Bất kì ở đâu bất kì ai làm bất kì điều gì quấy nhiễu, ngay lập tức tất cả trở nên đen tối. Đến hàng nghìn cây số và đến hàng nghìn năm vẫn còn cảm thấy.

Sự sống làm tan mọi bẩn thiu, nhưng đời sống lại không thể. Sức nặng và bóng tối của sự bẩn thỉu ở lại đời sống, va chạm vào con người, cản trở con người, bóng tối của nó làm mờ cái nhìn của con người. Không gì làm tổn thương hơn sự bốc hơi, vô hình và nhẹ lâng này, thứ gọi là đời sống, và thứ khó chịu đựng hơn cả không phải sự xúc phạm thô bạo mà là hành hạ dai dẳng của sự bất lương.

Bởi vậy không gì có lí do hơn sự lo lắng cho đời sống. Không gì dễ hiểu hơn cơn giận dữ của nhà tiên tri.

Nhà tiên tri không tuyên bố về của cải và danh tiếng, quyền lực và hưởng thụ. Sự hư hỏng phá hỏng đời sống mà cả cộng đồng sống trong đó, nơi mọi người cùng tham dự, nơi ai cũng có nhu cầu về sự trong sạch của nó, và là thứ mà tất cả ai nhạy cảm với sự trong sạch đều lo lắng cho nó. Sự lo lắng đời sống này ở mức độ nào đấy hơn cả bệnh thần kinh, với những biểu hiện điên rồ rồ dại, ở những người như Jesajas, Savonarol, Nietzsche.

Nhưng thật tai hại cho ai nhầm lẫn sự lo lắng đời sống này với sự ghen tị đời sống của đạo đức thẳng thừng. Sự lo lắng cho đời sống không mù quáng đến mức: giá mà xóa được cái thế gian này ra khỏi sự sống. Lo lắng cho đời sống là sự gắn bó ngây thơ với bản chất, là niềm hứng khởi nguyên thủy của đời sống.

Đạo đức thẳng thừng không lo âu vì đời sống, mà bị xúc phạm và muốn cao hơn đời sống, đấy là sự ghen tị với của cải, danh tiếng và quyền lực.

Sự lo lắng cho đời sống không ham hố. Nó lo lắng, sợ hãi, căm thù cho chính đời sống (niềm vui mật ngọt siêu việt, như người Ấn Độ thường nói), nhưng căm thù một cách không ác độc, và bởi vì không thể làm ngắn lại đời sống, nến nó căm thù vì thời hoàng kim đã bị đầu độc.

Thế gian, cái đang có ở đây, cái chúng ta làm ra từ bấy lâu nay đến giờ, và là cái - mà theo mọi dấu hiệu - chúng ta tiếp tục làm ra bằng lòng tự tin, trái ngược với điều mà tất cả những ai hiểu biết một chút đều thấy, toàn bộ sắp sửa rơi vào đầu chúng ta.

Bởi vì sau khi ý nghĩa của toàn bộ các đề tài bị đánh mất, chỉ còn một điều đáng nói duy nhất: sự khủng hoảng. Ngoài ra tất cả đều vô nghĩa và thừa.

Con người càng ở cấp cao bao nhiêu, sự phản bội càng nghiêm trọng bấy nhiêu. Lũ nhỏ nhen, bọn chính trị gia, lũ nhà báo. Chúng phản bội cái gì? Cao nhất là lí tưởng. Cao hơn, và cao hơn nữa. Như Holderlin đã nói: Vergisst sich und sein Gott - Quên mất chính mình và Chúa của mình.

Đặc điểm của đạo đức không phải là thẳng thừng. Tôi có mặt ở đây không phải để kết án bất kì ai, mà để chung sống cùng họ. Bản kết án tôi cần thực hành với chính bản thân tôi. Đạo đức thẳng thừng là thứ cần vứt.

Nhưng tôi làm gì đây với kẻ lén lút sờ vào của cải, sấn sổ và như lũ bất tài mất dạy, nhảy tót lên ngồi hàng ghế đầu? Hay đây là đặc tính người, rất người: tha hóa, phản bội, hay lầm lẫn, hay đi đánh lừa, mặc cả, chuyên săn lùng những phi vụ nhỏ mọn, nịnh hót, phục tùng, bôi nhọ người khác, sau đó lại tự gặm nhấm và tranh luận với lương tâm cắn rứt, để trở thành kẻ bán đứng, kẻ nói dối và trơ trẽn, chế giễu bông lơn với toàn bộ, quay lưng với toàn bộ và chạy trốn, chạy trốn và phủ nhận, chối cãi?

Và đấy có phải kẻ khăng khăng một mình gìn giữ sự trong trắng đáng ngờ, từ đấy tự tạo ra sự cao cả và vương miện cho mình? cần hay không mức độ trong sáng giản dị của trái tim để con người gần như bằng sự tử tế vô cùng, một cách vô liêm sỉ, cấu xé kẻ nào có thể, vì chiến lợi phẩm?

Cần hay không một sự nhục nhã chưa tưởng tượng ra bao giờ xứng với sự ti tiện này? Có thể coi hay không sự hư hỏng tuyệt vọng này mang tính chất ấu trĩ ngớ ngẩn, và nếu sự khuất phục thế gian này đúng là một sự phản bội chất thiêng liêng bên trong của đời sống người, tất cả là sự phản bội cái cao cả không vái tới được, phải chăng không cần đến sự trong trắng đầy uy tín để con người có thể đi theo?

Về, mọi người đều sống, thậm chí, trên mọi cái và bằng mọi giá để sống, có quyền sống, và cuộc sống như một tư tưởng mang giá trị tự thân và phần lớn tốt đẹp, điều mà kể cả những người như GoetheNietzsche đã dùng để chọc tức cả một thời đại, giờ đây cần đặt câu hỏi, thực ra sống có nghĩa là gì?

Những gì con người thấy, tương đối mơ hồ, chỉ như một sự thất thần, không liên quan gì đến đặc tính cơ bản nguyên thủy của đời sống, bởi vì nó không khác gì một sự đói khát điên cuồng, ngây ra trước tất cả và nuốt chửng, công viên vui và triển lãm, nhạc vũ kịch và dạ hội, các nhà hát và các trận đấu bóng, và rạp chiếu phim, và trong cái đa dạng này như thể nói về cái trái ngược của đời sống, không phải sống, mà đúng hơn bằng sự hỗ trợ đi rải rắc những hưng phấn để quên hẳn đời sống đi.

Để không bao giờ cần phải nghĩ đến nó nữa. Bởi vậy Heidegger nói, ngày nay con người trong sự sống bị quên lãng, không biết sống nữa mà chỉ, biết khát bởi trạng thái thèm khát đời sống đặc thù của nó, nó không có cơ hội để sống và tất cả, những gì con người ở trong đó, chỉ là sự thay thế đáng buồn của hiện thực.

Ta có thể nói đời sống là một sự vô cảm. Đời sống như trạng thái bị ngất lịm, suy sụp. Thuốc lá, moocfin, rượu đế, cafe. Đây là nơi đến của Faust tội nghiệp và Dionusos khốn khổ. Sự bình thường hóa của đời sống biến mất, ngay lập tức cần nghĩ đến những thay thế, để con người đừng phát điên vì sự đói khát đời sống của nó.

Thực chất những căng thẳng nào cần được cân bằng lại để, cứ cho là một người nào đó có thể sống nổi? Những giấc mơ như thế nào có thể hiện thực hóa?

Con người có mối quan hệ như thế nào với câu chuyện cuộc đời của cô giữ cổng giá chỉ một lần, một lần duy nhất trong đời thôi được lung linh trong váy áo dạ hội, trên đầu là vương miện (dù là đồ giả) nhưng, sau tiếng khèn hiệu lệnh, duyên dáng bước vào phòng khiêu vũ, như một nữ hoàng của Shakespeare?

Người ta có mối quan hệ như thế nào ví dụ với sự kiện một kẻ độc tài giữ lấy khán đài để phát biểu, không khác bao nhiêu sự kiện của cô giữ cổng, chỉ sân khấu cuộc đời dựng tạm xám xịt hơn và các vạch kẻ xấu xí hơn.

Con người có nhu cầu gì? Sở thích gì? Ước nguyện gì? Hình mẫu lí tưởng bất tử của họ như thế nào? Cái gì tha thiết với họ hơn bản thân đời sống?

Không sống. Cướp đi đời sống.

Không hề hạ thấp. Không chút hằn học, không yêu thích cũng như không căm ghét. Chỉ quan sát xung quanh, không kèm những ý định sửa đổi. Ôi! Chúa hãy che chở!

Tìm những từ ngữ đã cân nhắc, thông minh, giản dị, để bình tĩnh lại, không cả hồi tưởng, không cả đồng cảm, không với tình yêu thương, như cách thức con người nhìn lũ chuột thí nghiệm khi lửa dịch bệnh đỏ ngầu mắt chúng.

Cái chúng ta gọi là thế gian dành cho thứ sinh linh chỉ coi mình là khách lãng du, là cơn ác mộng, là sự bất lực. Thế gian từ bên ngoài không nhìn thấy gì hết. Có thể đây là nghiệp quả tập thể của nhân loại, hay nói cách khác là hậu quả của tất cả những gì sau hàng trăm ngàn năm trong số phận nhân loại đã tích tụ lại, và giờ đây cần chịu đựng di sản đáng nguyền rủa ấy. Đây sẽ là di sản được lưu trữ.

Trong thế gian logic không có hiệu lực, đạo đức cũng thế, thậm chí cả những định luật của đời sống hữu cơ cũng phi hiệu lực. Trên thế gian chỉ có một logic duy nhất: một lần con người đã gây ra một cái gì đó, giờ đây cần gánh toàn bộ hậu quả của nó.

Như Kinh Tora nói: hetediglen (bị nguyền rủa ngàn đời). Như khoa học tuyên bố: di truyền. Như Buddha đã dạy: mọi hành động, ý nghĩ, cử động, lời nói của chúng ta là nghiệp quả không tránh khỏi của hành động, ý nghĩ, cử động, lời nói chúng ta đã phạm từ những kiếp trước.

Cái xảy ra trên thế gian, nói theo ngôn ngữ luyện vàng (alkimia)putrefactio, có nghĩa là sự hư hỏng, sự vỡ toang, sự căng phồng, rữa ra, biến chất, tan rữa.

Putrefactio không chỉ là sự hủy diệt vô nghĩa. Đây là trạng thái, khi vật chất của thiên nhiên, prima materia, kết cấu và hình thức của nó bị phá vỡ, tan ra từng mảnh và hiện thực hóa vào những cơ cấu mới và khác. Cái rơi vào thế gian, lập tức lan truyền và vón cục.

Chúng ta nhìn thấy điều này từ mình và đặt tên mĩ miều là sự lớn lên và phát triển. Cái hình dáng sơ sinh gốc rễ của con người tấy sưng lên hai chục lần, sau đó xuất hiện sự lan tràn mới, dục tính, để làm lan truyền những sinh linh mới, và giữa những giai đoạn ấy, hấp thụ các loại vật chất thiên nhiên khác nhau vào mình để tự lan truyền, và sau rốt sinh linh này trong hình dạng người chấm dứt, cái chúng ta gọi là chết.

Thế gian là xưởng luyện vàng, nơi thiên nhiên biến thành một cái gì khác, một phần thành rác, chất thải, một phần - như thuật giả kim nói - thành vàng, nếu con người nỗ lực đặc biệt trong lợi ích của việc biến đổi này.

Trong mọi trường hợp, coi thế gian như một nơi tận cùng là một sự thảm hại, và người nào không thức tỉnh một điều, cần phải làm gì để thay đổi, người đó sẽ bị cuốn trôi không dấu vết và chìm trong sự tha hóa, sẽ từ bỏ sự sống tuyệt đối.

Thế gian đánh mất ý nghĩa-căn nhà của nó, và con người thiếu những quan hệ cộng đồng nghiêm chỉnh, thuần túy chỉ tồn tại trên thế gian như một kẻ quan sát, và coi những gì đang xảy ra là một sự kiện nhân chủng học kì lạ, một thứ đặc biệt và trong một quan điểm nhất định nào đấy lí thú nhưng thực ra hoàn toàn vô nghĩa.

Nghịch lí của khoa học. Sau khi chính trị ngự trị trên thế gian và con người tham dự vào quyền lực nghiền nát này, và sau khi tôn giáo cũng trở thành một quyền lực chống lại nhân loại, có vẻ như duy nhất chỉ còn khoa học bảo vệ con người, đối diện với thế gian.

Nhưng sau vài trăm năm hi vọng về khoa học cũng mất. Khoa học cũng hư hỏng một cách hiện thực hóa như chính trị và tôn giáo, và con người không còn bất cứ nơi nào để cúi đầu nữa.

Sự thống trị của thế gian.

Lịch sử châu Âu có hai thời kì:

Trong thời kì đầu tiên, đạo đức thẳng thừng thống trị, con người sống trong sự trả thù bị khơi nguồn bởi nỗi đau khổ chịu đựng thế gian của nó. Thế gian, là một con đĩ dễ dãi, kẻ đi lừa con người, cướp của, cười nhạo báng vào mũi nó và bỏ mặc nó, bỏ đi. Đấy là thời cổ và trung cổ.

Trong thời kì thứ hai lương tâm cắn rứt thống trị, bởi con người đã phục tùng, đã thích nghi và mang tính trần thế, con người tìm ra nghệ thuật và khoa học. Đấy là thời hiện đại.

Bây giờ bắt đầu thời kì thứ ba. Giờ đây không còn gì khác ngoài trần thế. Một quá trình hành hạ, tấn công, làm nhục, cưỡng bức, đày đọa.

Thế kỉ hước là thế kỉ của những kẻ điên. Holderlin, Schumann, Gogol Baudelaire, Maupassant, Van Gogh, Nietzsche.

Ngày nay chúng ta không có khả năng điên.

Thay vào đó là sự vô gia cư. Những kẻ lưu vong và tị nạn Nga, Serbia, Đức, Rumani, Pháp, Tây Ban Nha.

Hình thức mới nhất của trạng thái vô gia cư là khi con người không bao giờ có nhà nữa ngay trong đất nước của mình. Trạng thái lưu vong bên trong.

Kẻ nào không phục tùng, có thể chuyển sang đạo đức thẳng thừng và có thể trở thành kẻ nổi loạn, nhất là trong việc trả thù. Không có con đường khác: đạo đức thẳng thừng hoặc lương tâm cắn rứt. Kẻ không ở vị trí nào, kẻ đó vô gia cư.

3.

Tác phẩm về khủng hoảng đầu hên của Sörén Kierkegaard: Phê phán thời gian được viết năm 1845.

Ý nghĩa của tác phẩm này: ngày hôm nay chúng ta không sống trong cơn khủng hoảng của mọi thời đại đã bắt đầu từ khởi điểm của thời gian và là trạng thái đã bình thường hóa của mỗi con người, cuộc khủng hoảng ngày hôm nay đặc biệt, ngoại lệ, duy nhất, tuyệt đối và sau cùng.

Xưa kia khủng hoảng không phải là bí mật của lịch sử. Tất cả mọi người đều biết về nó, và đời sống nhân loại được điều chỉnh bằng quan điểm nói về sự khủng hoảng. Ngày nay, trừ trường hợp ngoại lệ, con người không biết đến sự khủng hoảng, thậm chí, họ không muốn biết.

Khái niệm của Kierkegaard nói về con người sống trong ý thức tội lỗi là hiện sinh. Sống cuộc đời thật sự, Kierkegaard nói, chỉ hiện sinh này sống. Ai không thực hiện điều này là lẩn tránh trước ý thức về hiện thực. Sự sống của nó được xây dựng trên sự lãng quên (léthé) liên tục của khủng hoảng, và chính vì thế nó đắm mình trong khủng hoảng. Người tham dự vào hiện thực, là người nhận ra hoàn cảnh thật sự, và đặt bản thân mình vào sự khủng hoảng một cách trần trụi (alétheia).

Một trăm năm đã trôi qua và cái mà chúng ta biết về sự khủng hoảng, như đã trở nên quen thuộc, không phải do những tác phẩm vĩ đại hay nổi tiếng mà từ các tác phẩm vô danh.

Những điều cơ bản con người không tìm thấy ở các tuyển tập của Keyserling, của Spengler hay của Sorokin, mà tìm thấy trong vài nghiên cứu mỏng. Martin Heidegger đã viết những tập sách ấy và ông bảo chúng ta đã đi sau sự khủng hoảng. Không phải như một sự kiện định mệnh rò ràng quyết định toàn bộ, và từ phút đó trở đi tình thế trở nên tuyệt vọng.

Thực chất khủng hoảng đã xảy ra không thể cứu vớt được nữa, và xảy ra một cách không nhận ra, bằng những thỏa thuận chung, và cái mà chúng ta sống, những biến động của thế kỉ vừa qua, những cuộc thế chiến thời hiện tại, những nhà nước kinh hoàng, cuộc cách mạng kĩ thuật, sự tha hóa xã hội-đạo đức-kinh tế không thể chặn đứng, giờ đây chỉ có thể coi như một rối loạn tự động mà thôi.

Heidegger giữ lại khái niệm cơ bản giải thích hành vi con người của Kierkegaard, như Nietzsche, PannwitzGúenon từng làm. Kẻ nào không đặt bản chất của nó vào sự khủng hoảng, không nghi ngờ gì nữa, kẻ đó là một hiện sinh giả (pseudoegzistens).

Nghĩa là kẻ nào bằng bất cứ lí do gì che giấu ý thức của sự khủng hoảng trước bản thân, và không tính đến những hậu quả của khủng hoảng động chạm đến đời sổng riêng của mình, kẻ đó vô nghĩa, lạc loài. Không nói lên điều gì. Tự xóa mình ra khỏi lịch sử.

Khủng hoảng, đúng, cực kì khó chịu, nhưng bị cất giấu trong những ảo tưởng nhất định, trước ý thức hiện tại đáng sợ, đấy là điều người Anh gọi là nonely crowd, hay như Camus viết, l’homme absurde.

Sống như thể không có điều gì xảy ra. Tiếp tục ba hoa về sự phát triển, về sự tiến bộ của khoa học, vạch các kế hoạch về sự phát triển kinh tế, các thỏa thuận chính trị, hình thức hóa sự giáo dục, nâng cao tri thức, khinh thường nền tảng văn hóa mới và tồn tại các loại chủ nghĩa báo chí.

Heidegger phân tích sự tất yếu của khủng hoảng bằng nhận định, sự khác nhau giữa chiến tranh và hòa bình chấm dứt. Cái đang có, chẳng phải chiến tranh, không là hòa bình. Ta có thể nói, cả thế gian đang ở trong trạng thái bao vây của một nhà nước thường xuyên.

Chiến tranh có thể xảy ra bất cứ phút nào, nhưng nếu không xảy ra, còn tồi tệ hơn, Điều này có mối quan hệ với vị trí liên quan đến nhau của các dân tộc. Vị trí tự thân của các dân tộc là sống trong trò đùa của một nhà nước thường xuyên. Mọi dân tộc đứng giữa hai cuộc đảo chính, một cuộc đã xảy ra, một cuộc đang chuẩn bị.

Về mặt kinh tế là sự thất bại của nhà nước thường xuyên. Còn gia đình? Chẳng phải hôn nhân, không là tình yêu tự do. Các đẳng cấp? Chẳng phải kẻ cai trị, không là đẳng cấp phục vụ, chỉ là những kẻ đi ở phi đẳng cấp. Không cộng đồng, chẳng cá nhân hóa. Không tội ác, chẳng vô tội, chỉ là sự nhơ bẩn.

Nhưng sự vật, như Camus nói, trầm trọng hơn rất nhiều, bởi chiến tranh, đảo chính, khủng hoảng, dối trá, bạo lực, sự bóc lột, tất cả những điều này có từ lâu rồi - có thể đối với các điền chủ thời Phục hưng, hoặc các nhà cai trị tùy tiện như Lajos XIV hoặc Frigyes II - là ngoại lệ, đối với họ dù kinh khủng đến thế nào vẫn chỉ một lần và phi pháp.

Còn ngày nay, tự nó nói lên tất cả. Người ta biết tất cả và coi như chuyện thường xuyên tất cả. Không gì cổ hủ hơn sự giận dữ. Giận giữ ngày nay là sự hài hước tuyệt đối nhất.

Việc giải quyết một đời sống trung bình như sau: với tất cả những gì đang có hãy làm lơ trước nhận thức thu được về chúng, về mặt cá nhân, hãy sử dụng các tình huống có thể, với cái giá từ bỏ hiện sinh đích thực của mình, hãy đảm bảo những điều kiện bên ngoài của đời sống riêng của mình từ nền tảng vững chắc có thể (man for himself- vì bản thân mình).

Bởi vậy trở thành kẻ chiến thắng trong cuộc đời, sau vài ngoại lệ ít ỏi, thuần túy có nghĩa là sự bại trận hoàn toàn. Người ta nói, ai chịu đựng nổi cái đang có ngày hôm nay, còn tuyệt vời hơn cả sự tuyệt vời của các thánh.

Bởi vậy Valery sai khi an ủi rằng khủng hoảng gì đi chăng nữa, cuộc sống vẫn tiếp tục đi tiếp. Đúng thế, đời sống vẫn trôi đi. Nhưng sự phi danh dự của hiện sinh giả có thể đạt tới mức độ, thậm chí đã đạt đến mức độ, rằng con người đã mua đời sống bằng một giá không ra gì, thậm chí vô cùng tồi tệ.

Sự bẩn thỉu chỉ có thể chịu đựng đến mức độ nào đấy. Đời sống tự đánh mất mình đến mức, không bao giờ còn là đời sống nữa, chỉ là mức độ của đời sống sinh học và rồ dại quỷ sứ trộn lẫn nhau một cách đặc thù, một thứ tất nhiên có thể tiếp tục duy trì, nhưng không đáng.

Con người nhận được đời sống của nó. Vị trí sự sống của nó tự nó cần lựa chọn cho mình, không có bất kì tác động nào của đời sống, và tự nó lựa chọn theo cái mà nó cho là xứng đáng.

Hiện thực hiện sinh, tự đo, khát vọng và lí tưởng bất tử phụ thuộc lẫn nhau như thế. Cái đầu tiên làm con người run sợ trước hiện sinh giả không phải là đời sống dối trá, mà là phải coi một tham vọng nghèo nàn thảm hại là lí tưởng bất tử cho mình.

4.

Trong lịch sử các cuộc nổi loạn gần đây nhất không thể xác định được thời gian xảy ra tình huống. Có thể nó đã xảy ra trong thời Descartes, có thể trước hoặc sau đó ít lâu, nhúng trong mọi trường, hợp giọng điệu bất nhã ngạo mạn mà sau đó không lâu nhóm Voltaire sử dụng đã trở nên quen thuộc.

Cho đến: tận lúc đó người ta chỉ biết đến một khả năng của sự nổi loạn, là sự nổi loạn chống lại thế gian. Sau cùng, trong mọi thời gian và ở mọi nơi, thế gian vẫn là một thứ xa lạ, không thể thích nghi, là thứ con người không biết chút gì về nó và không thể chấp nhận, là thứ từng có và vẫn còn lại, kể cả trong trường hợp (to bea villain - ta sẽ thành kẻ vô lại) con người muốn phục tùng, nó một cách cố gắng và vẹn toàn.

Những kẻ nổi loạn cổ điển, PlatónKhổng Tử, BuddhaHeracleitos, với dân dị giáo và Savonarola - khi lắng nghe họ - chỉ có thể hiểu nổi, nếu lấy đạo đức thẳng thừng để chống lại thế gian. Nổi loạn chỉ mang ý nghĩa khi đối mặt với thế gian suy thoái, bởi đấy chính là cơ sở của nó. Cái mà người ta gọi là nhân danh sự thật. Tuyên bố sự thật chưa bao giờ mang lại lợi lộc vật chất, theo từng thời kì có thể ít nhiều nguy hiểm đến tính mệnh, nhưng chỉ những kẻ đối lập với thế gian dám tuyên bố.

Tình huống này, giờ đấy là một thứ không ai chờ đợi và không thể hiểu nổi, hay: thế gian đang nổi loạn. Một vị trí phức tạp vô giới hạn đang tấn công. Sự hư hỏng bắt đầu xử sự như một kẻ bị hiểu lầm. Lương tâm cắn rứt bắt đầu nói về sự thật. Tất cả những điều này đã đi quá xa để con người có thể hiểu nổi.

Không gì ngu xuẩn hơn, thậm chí mất dạy hơn khi sự hư hỏng đóng vai kẻ bị xúc phạm và lên tiếng đòi quyền lợi. Đây là ví dụ điển hình cho thấy trong lịch sử các sự kiện chồng chéo lên nhau, đổi vai trò cho nhau và tan hòa vào nhau đến mức sau đó hoặc rất khó, hoặc tuyệt đối không thể nhận ra chân dung của chúng nữa.

Dostoiepxki viết về mô hình rác cuộc nổi loạn -truyền thống -trong chương "Grand Inquisitor" - Đại Pháp Quan (tiểu thuyết Anh em Karamazov). Theo huyền thoại, Đấng Cứu Thế hiện ra một lần nữa trên trái đất và dân chúng nhận ra Ngài. Sự thống trị của thế giới bị đe dọa như khi lần đầu tiên Ngài đến đây. Đấng Cứu Thế bị bắt và bị kết tội chết. -Nhưng trước đêm bị thiêu sống, trong nhà tù, Đại Pháp Quan thuyết phục Ngài hãy rời bỏ trái đất. Thế gian này, ở đây không có chỗ cho sự thật.

Đây là huyền thoại trừu tượng trong tinh thần của đạo đức thẳng thừng và lương tâm cắn rứt.

Hành vi nhân đạo trong trường- hợp này chỉ có thể và từng có là lập trường đứng bên cạnh Đấng Cứu Thế chống lại Đại Pháp Quan. Không nhất thiết cần phải nổi loạn, nhưng cũng không thể hiện thực hóa một cách khác.

Con người chưa bao giờ chiến thắng nổi cảm giác khó chịu với thế gian và không ai có thể im lặng khi người ta đuổi sự thật ra khỏi thế gian. Cho dù vô nghĩa đến đâu con người cũng không thể làm gì khác ngoài việc nổi loạn.

Điều chịu đựng khó khăn nhất trên thế gian là bất công có uy quyền còn sự thật thì yếu ớt. Điều thảm khốc là sự thật không biết tự nó thực hiện nó. Đây là sự sợ hãi run rẩy không ngừng trong con người, rằng sự thật bị xua đuổi khỏi trái đất và chúng ta ở lại đây không được bảo vệ. Đây là sự từ bỏ của sự thật. Đây là ý nghĩa của mọi cuộc nổi loạn.

Nhưng huyền thoại về Đại Pháp Quan đã lạc hậu. Thế gian bắt đầu thay đổi quan điểm cho rằng đuổi Đấng Cứu Thế ra khỏi trái đất là đúng.

Sự thật giả định các mức độ. Sự thật cao cả, minh bạch, trong trắng, thẳng thắn. Điều này gây khó khăn bất tận cho đời sống, đặc biệt cho hoạt động của những kẻ cầm quyền. Để sống nổi chúng ta không có nhu cầu về sự thật.

Sự nổi loạn trước kia không đáng tin cậy nhất nhưng về mặt lịch sử là một hành vi xác thực, dù không cứu vãn được nhưng có lí do để lo sợ cho sự trong sạch của đời sống trong thế gian hư hỏng. Đạo đức thẳng thừng là phương pháp của sự lo sợ cho đời sống này. Hình thức trong sáng của nó rất hiếm hoi, phần lớn, chỉ là sự ghen tị đời sống, ghen tuông với đời sống (resentiment), chính vì vậy nó không phương cứu chữa, nó giống hệt như sự phục tùng.

Thứ duy nhất nó có thể làm được ở mức độ mang tính người là đòi hỏi sự thật. Nếu không có điều này, lúc đó sự nổi loạn bị gạt bỏ khỏi đời sống, con người hoang mang trọng sự thật; bị bỏ rơi chỉ là sự bùng nổ của tình trạng căng thẳng ma quỷ.

Trong biểu hiện nổi loạn gần đây thế gian cố gắng tỏ ra phục tùng là một hành vi đáng tin cậy. Chống lại thử nghiệm này, mặc dù, chẳng ai lên tiếng, nói chung ai cũng rụt cổ lại, nhưng có vẻ như, ít nhất, đến lức này, thử nghiệm đã thất bại. Mọi dấu hiệu cho thấy đối với thế gian, thừa nhận hành vi phục tùng là đáng tin cậy thật vô nghĩa.

Thế gian vẫn khăng khăng lập luận: sự phục tùng như một hành vi được chấp nhận. Sự phục tùng còn đấy, như một thích nghi đáng khinh và tầm thường, mà người ta đành theo vì bắt buộc, nhưng là một điều nên, thậm chí cần phủ nhận, bởi vết nhơ từ nó không tẩy được. Cho dù người ta cố sức thí nghiệm bằng bất kì loại lí thuyết bào chữa nào đi nữa với tương lai-như bằng thuyết tiến hóa chẳng hạn, hay bằng, mọi cố gắng dối trá hóa lịch sử - nhưng hành vi này của thế gian vẫn không được, chấp nhận là xác thực.

Trong những thế kỉ vừa qua con người nổi loạn vì Đấng Cứu Thế - như một sinh linh làm sống lại toàn những khó khăn thừa thãi vô ích, nên bị đuổi ra khỏi trái đất. Gần đây con người ngậm miệng, và tảng lờ, bởi người ta dạy họ rằng, Đấng Cứu Thế vẫn luôn luôn được gửi xuống, thế là đúng, thế là chuyển đổi, là sự thật!

Chừng nào còn cần chứng kiến đến cùng quá trình bị đi đày của sự thật, con người còn nghiến răng, hoang mang vì sự yếu ớt của sự thật, nhưng dù nổi loạn điên tiết chăng nữa, vẫn còn lại con người.

Sự nổi loạn của thế gian là quan điểm đời sống mới mẻ mà ít nhất ba trăm năm nay người ta chuẩn bị trong từng chi tiết với mục đích cứu vớt con người khỏi bản án của lương tâm cắn rứt, hay dùng từ khác là tuyên bố trắng án cho sự phục tùng.

Tùy từng mức độ nhất định của sự bất lương, người ta bắt buộc phải chứng thực sự tầm thường của ý thức phạm tội một cách nào đó.

Một số người cho rằng nổi loạn do cái đói của đời sống. Sự thèm khát sống xuất hiện như sau: con người sống một đời sống phi pháp, thực chất không phải nhận được ít mà nhận được sự chảy nhão và rỗng tuếch.

Số khác cho rằng toàn bộ không liên quan gì đến nạn đói, thế gian không đói mà kén chọn. Điều kiện sống không phải là bánh mì nữa mà là kẹo. Nền văn minh bon-bon. Thế gian nổi loạn không phải vì chết đói mà vì ứ họng.

Tất cả những điều này vẫn như vậy trên thế gian. Không ai coi thế gian ra gì, nhưng cũng chẳng ai biết làm gì khác. Khinh bỉ, nhưng vẫn sống dưới tác động của nó hay đúng hơn, ghê tởm nhưng bị nó khuất phục, sau rốt nổi loạn chống lại nó và cùng lúc phục tùng nó.

Theo quan niệm của Đại Pháp Quan cần bỏ rơi sự thật mà sống cần thấy sự thật thì yếu ớt, và thế gian đủ quyền lực đuổi sự thật ra khỏi trái đất. Không có sự thật, như Nietzsche nói: Gott ist tot - Chúa đã chết rồi.

Quan niệm mới nhất nghiêm khắc hơn. Từ khi Gott ist tot cả thế gian thở ra nhẹ nhõm, sau cùng cũng đến lúc cả sự thật, danh sự, đạo đức không cần phải coi trọng nữa. Thực hành tự do của đời sống chỉ thuần túy lầm cản trở, như người ta nói. Lương tâm cắn rứt cần coi là bệnh lí và kém cỏi. Khoa học. Tuyệt! Bằng khoa học, cả một đống lập luận về đạo đức thẳng thừng đe dọa hàng nghìn năm nay, bị đập tan.

Cần ghi nhớ điều này: thế gian không nhân danh sự thật. Cái mà thế gian nhân danh là đa số. Đa số được tụ tập bằng cách, nếu ai không đứng về phía nó, sẽ bị tước các khả năng sống, bị đóng dấu là kẻ nổi loạn và bị tống ra khỏi xã hội. Ý kiến của đa số không liên quan gì đến sự thật, nhưng trong một cộng đồng hư hỏng nó hoàn thành chức năng của sự thật.

Hoàn cảnh càng trở nên phức tạp, khi cả thế gian con người - số đông càng hư hỏng, càng ít hiện thực - chỉ còn một đa số chính trị, một mặt đánh lạc hướng, mặt khác lừa bịp, một mặt khủng bố, mặt khác sản sinh ra các mánh khóe chính trị, trái với một cộng đồng thật sự, đây là một đa số theo phương pháp thống kê nhân tạo hay còn gọi là nền dân chủ.

Một học thuyết hư vô (nihilizmus).

Một luận điệu cũ rích.

Đặc biệt, các cách diễn đạt về các sự kiện, trong một khoảng thời gian ngày càng ngắn hạn, đã trở nên rỗng tuếch một cách đáng sợ. Trước thời cách mạng Pháp nhiệt huyết của Voltaire là ngạn ngữ. Kẻ theo thuyết hư vô giữa thế kỉ hai mươi gần như một ông thánh,

Mọi sự bảo vệ có thể gọi tên chấm dứt. Con người tưởng, nổi loạn chỉ có thể trên nền tảng đạo đức. Điều này trong sự nổi loạn là sự thật, đúng cả khi sự thật hoàn toàn trừu tượng thậm chí kể cả khi đằng sau nó ẩn náu sự ghen tuông hoặc ghen tị đời sống (ressentiment). Nhưng không từ cơ sở đạo đức mà thế gian nổi loạn (nổi loạn chống lại sự nổi loạn).

Tất cả mọi người đều biết cái thế gian nói là không đúng. Nhưng, khi nói không đúng, nó không nói dối, ít nhất không dối hoàn toàn. Đôi khi nó như kẻ ngớ ngẩn, đôi khi như kẻ nói lảng. Thế gian lơ lửng giữa tưởng tượng và tự lừa dối. Nửa nhầm lẫn, nửa như ma, hơi hoang tưởng, tầm thường, ngu ngốc và mất dạy, ranh mãnh và mê tín.

Điều đáng ngạc nhiên, là sự nổi loạn của thế gian sau cùng chẳng muốn cái gì và từ cái chẳng muốn này không thành bất ki cái gì. Đừng nói đến lí thuyết hay đạo đức, ảo tưởng hay cách mạng hay khủng bố. Toàn bộ không có ý nghĩa gì ngoài việc thế gian là thế gian, nơi tất cả đều suy thoái và tan rã, đánh mất hình thức và bản chất của nó, hư hoại và tan rã, ngu dại và cặn bã, vô nghĩa như điều mà kẻ nào đó định nổi loạn chống lại.

Nguyên mẫu của thế gian nổi loạn là kẻ ác chính thức. Ngày nay ta không sống trong tinh thần, của Đại Pháp Quan nữa mà trong tinh thần của kẻ bất lương chuyên nghiệp.

Thời gian xuất hiện của kẻ bất lương chuyên nghiệp không thể xác định. Nhưng bước đi đầu tiên và mang tính chất quyết định xuất phát từ Platon khi trong tác phẩm Politheia-ông cho rằng những kẻ cầm quyền dối trá. Châu Âu có khoảng hai nghìn năm trăm năm khốn khó. Nền tảng của nó như sau: tự do nói dối vì quyền lợi chung. Người ta nhận ra rất nhanh không chỉ những kẻ cai trị làm điều này mà tất cả các nhà báo, và sự dối trá, không ngoại lệ, đều từ quyền lợi chung mà ra.

Bước thứ hai là công lao của Machiavelli. Từ quyền lợi chung người ta không chỉ cho phép dối trá, mà còn cho phép cả các tội ác, cơ bản là sự phản bội, lừa gạt, chọc gậy bánh xe, đầu độc, diệt chủng, và tất cả những, điều này không ngược pháp luật, không ngoại lệ và một lần, không từ nhu cầu, mà như một thực hành chính trị.

Ban đầu người ta chỉ xóa mờ ranh giới giữa người nhà nước và kẻ bất lương. Muộn hơn, toàn bộ sự khác biệt bắt đầu bị xóa mờ một cách đáng sợ giữa kẻ bất lương và toàn bộ các đảng phái, các tổ chức.

Tội ác trở nên quen thuộc và là thực hành cai trị hợp pháp, đặc biệt sau tác phẩm Reflexions on violence của Georges Sorel đã thanh hòa và lí thuyết hóa toàn bộ quá trình này. Tác phẩm của G. Sorel đã mở đường cho những kẻ bất lương chuyên nghiệp, đặc thù của thế kỉ hai mươi. Sorel đã hoàn thành bước thứ ba.

Bước thứ tư sẽ là gì, chúng ta chưa biết. Nhưng từ những gì con người biết xác định từ hành vi của kẻ bất lương chuyên nghiệp, kẻ ác chánh thức, và những gì đọc được từ nét mặt kẻ ấy, chắc chắn không có gì tốt đẹp.

Đặc biệt, nếu con người để ý những khuôn mặt bất nhân được lưu truyền một cách nhanh chóng đến như thế nào, các đặc điểm đường nét ngày nọ qua ngày kia xuất hiện dày đặc hơn, không chỉ trên khuôn mặt của các bộ trưởng, các nhà ngoại giao, các chủ ngân hàng và quân nhân, các thầy thuốc, linh mục - đã quá: quen thuộc với con người - mà còn xuất hiện ngày một đông đảo hơn ở cảnh sát, giáo viên, những người canh cổng; và ngay cả trên khuôn mặt phụ nữ.

Không thể nhầm được. Khuôn mặt này thể hiện sự tối tăm của con tim. Còn tệ hơn cả tội ác, vì đã hư hoại. Không thể hoàn lương. Ngay cả tính chất trơ trẽn cũng rơi rụng khỏi nó. Nó bơ phờ, lo lắng, khiêu khích. Trong sự đê tiện đã đi quá mức độ vô lại chính trị của nó, các nét căng thẳng chỉ trở nên nhăn nhó khi thấy người khác đau khổ. Đôi mắt, đôi mắt tự nó ánh lên những tia sáng tím tăm tối của sự tuyệt vọng địa ngục.

Đời sống chịu đựng những gánh nặng khủng khiếp, nhưng với kẻ này đời sống gần như sụp đổ. Con người này không biết đến quyền lợi và sự ích kỉ, lợi ích và sự thuận lợi, chưa kể đến niềm vui, nó không còn biết gì khác, chỉ còn biết về gánh nặng khủng khiếp của sự diệt vong đông đặc lại trong nó.

5.

Diderot nói, nghệ sĩ là người, cái gì đem ra diễn, không được phép trải qua. Nghệ sĩ càng có tay nghề, càng đứng ở vị trí tránh xa các xúc cảm và những say mê. Không được phép thốt một lời chân thành, không được phép thể hiện một cử chỉ không chuyên nghiệp. Trong những mức độ càng như thật, càng là diễn viên dở và vô tác dụng. Cái định diễn; cần cân nhắc có ý thức, suy nghĩ thấu đáo tất cả những gì sẽ diễn ra, nhận biết về chúng hoàn hảo, nhưng không được phép trở thành kẻ liên quan. Nghệ sĩ không muốn giới thiệu hiện thực mà muốn khêu gợi tác động của hiện thực.

Thế gian là nơi sự vật không như nó có mà như nó tác động. Trên thế gian người ta kết án con người không theo đời sống thực sự của nó mà theo kết quả trình diễn của nó.

Không phải cái có, mà là cái đó có tác động như thế nào. Con người trên thế gian, dù muốn hay không, đều cần phải trở thành triết gia, cần biết phân biệt cái gì là cái thực sự có, cái gì là cái chỉ bày ra. Không có sự trực tiếp.

Thế gian được xây dựng từ sự căng thẳng này, và tất cả những gì mang tính thế gian cũng thế: tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, Nền tảng của siêu hình nằm ở đó. Có thể và có quyền nói đến sự giả bộ và hiện thực có chồng chéo lên nhau hay không, nhưng không ai dám khẳng định cái gây tác động là hiện thực.

Giữa cái có thực và cái giả bộ có thể thỏa thuận. Nhưng giữa cái có và cái gây tác động, không thể thỏa thuận. Trên thế gian, chúng ta không sống trong hiện thực, mà sống dưới các tác động. Logic của thế gian khác logic của hiện thực. Bởi vậy cái mà C.G. Jung nói hoàn toàn sai, hiện thực không phải là cái gây tác động (Wirklichkeit ist, was wirkt).

Cái giả bộ có thể nhân tạo, và có thể tạo ra. Tại sao? Để gây tác động. Cái giả bộ có thể nói lên hiện thực. Tại sao? Để gây tác động. Cái có, tuyệt đối không gây tác động, và nếu có tác động, lại không thuộc về nó.

Tác động giả bộ thiếu hiện tại thật sự?

Cái gì là cái gây tác động trong sự tác động?

Có thể, cái gây tác động trong sự tác động không là hiện thực, và cũng không tồn tại. Có lẽ giữa hiện thực và phi hiện thực có một miền trung gian, là thứ không phải hiện thực cũng không phải là cái gì hết, là thứ không xác định được là không có, hay có.

Thứ tác động trong sự tác động chắc chắn không phải là hiện thực, như tác động của thế gian còn mạnh hơn cả hiện thực, cần một lí thuyết riêng về việc con người kéo mình ra khỏi sự tác động, và trên thế gian việc khó khăn nhất là nhìn xuyên thấu qua mạng lưới của sự tác động.

Thế gian mang bản chất nữ tính. Không bao giờ để ý tới hiện thực mà chỉ luôn để ý tới tác động. Đàn bà không quan tâm tới cái có mà tới việc tác động như thế nào. Như thể họ không có mục đích gì khác, ngoài việc nhầm lẫn hiện thực.

Họ chỉ có một câu hỏi duy nhất là tác động như thế nào đây? Chúng ta biết, người đàn bà đồng hóa mình với tác động của việc họ làm. Phần lớn bằng cách giấu kín nhân tố thực, đôi khi chỉ ra cái không có. Họ biết đau khổ bởi những nỗi khổ sở không thể tưởng tượng nổi - như người ta nói - vì sắc đẹp.

Nhưng phần lớn đàn bà không biết phân biệt giữa sắc đẹp và sự tác động. Họ biết cách khinh rẻ đáng kinh ngạc cái đang có. Điều này gần với nghệ thuật, nhưng độc quyền hem và say mê hơn, và họ không muốn gì hết ngoài làm trò ảo thuật. Bởi vậy truyền thống Hindu cho rằng thế gian là maja, ảo ảnh.

Mọi sự vật không tồn tại như ý nghĩa cội rễ của chúng mà theo cách chúng tác động.

Nguyên nhân bản chất hư hỏng của thế gian là sự tác động mạnh hơn hiện thực.

Kẻ đi gây tác động, không nhất thiết là kẻ có đức tin xấu, nhưng quả thật một tác động thành thật vô cùng hiếm hoi. Người ta nói, toàn bộ nền hội họa chỉ có duy nhất một bức tranh vẽ người đàn bà không phải ảo ảnh, không để thực hành tài năng, không là một vai diễn thể hiện một hiện thực bất kì. Đấy là bức La Gioconda (Leonardo da Vinci (1503-1519)) - Không phải bà nội trợ, chẳng phải bà mẹ, không là cô dâu, chẳng phải gái giang hồ. Một người đàn bà như đàn bà.

Thật hiếm hoi thứ âm nhạc, hội họa, thi ca hoặc điêu khắc không muốn khêu gợi tác động, không là thực hành tài năng, hoặc mang vai trò nghệ sĩ.

Với đàn bà không gì định mệnh hơn là họ bị lật tẩy kĩ thuật gây tác động.

Truyền thống Do Thái cho rằng trong thời hoàng kim các thiếu nữ của con người sống trong sự trinh trắng, bởi vì họ chưa biết phân biệt việc người ta nhìn họ hay không. Các thiên thần sa ngã đã dạy họ thực hành các thiên phú và đừng trở thành đàn bà mà hãy đóng vai đàn bà mà thôi. Trước đó đàn bà sống như đàn bà. Thuần túy Gioconda. Không muốn gây tác động,

Có thể, việc đánh mất sự trinh trắng này là sự bắt đầu của thế gian.

Nguyên nhân của sự sa ngã là tất cả đều khác so với cái có. Kĩ thuật gây tác động. Trang phục, phù hiệu, các phần thưởng, các động tác, âm thanh, hành vi.

Tác động không bao giờ từ tự bản thân nó.

Tác động là một trong những giá trị thấp cua nghệ thuật. Cái con người muốn sử dụng, muốn làm như thế nào đấy không liên quan gì đến nghệ thuật. Thế nhưng toàn bộ nghệ thuật, thi phẩm, âm nhạc, tư tưởng, chính trị, đời sống chung đều hoạt động theo hướng nhận tác động nhiều nhất. Không đơn thuần chỉ là sự thể hiện. Ở quan điểm này, cái tác động là sự lừa phỉnh (fals). Đến các công thức toán học cũng không loại trừ, chỉ duy nhất ngoại lệ là các cuốn sách thiêng.

Cái gì sẽ xảy ra, nếu từ một cái gì đấy không đọng lại gì hết ngoài tác động của nó?

6.

Lí thuyết thông tin bắt đầu từ việc con người trong kinh tế học hiện đại, trong các sự vụ tiền tệ, chính trị, quân đội, y tế, trong ngành cảnh sát, từ các quan điểm trình bày văn học, nghệ thuật, đều cần đến những thông báo chính xác, ngắn, súc tích, nhanh và nhiều.

Phần lớn các loại thông tin đại chúng không phù hợp với các yêu cầu. Nếu đánh giá các thông báo này sẽ thấy các thông báo đó một hoặc nhiều trang không chính xác, không bao quát, không quán triệt, không cập nhật,

Theo lí thuyết thông tin, sự thái quá, loạn xạ, cản trở một thông báo đúng. Sự thái quá xuất hiện trong tính chất "tràng giang đại hải" nếu một thông báo ba hoa, trong tính chất mơ hồ nếu thông tin không chắc chắn, nhất là nếu thông tin bị tác động về mặt cảm xúc hay lập trường tư tưởng.

Thông tin, kể cả khi khách quan, nhưng vì sự thái quá xúc cảm hoặc lập trường bên trong nó, đều không đáng tin.

Sự dối trá từ trước tới nay người ta chỉ đo từ mặt đạo đức hoặc logic, và bằng cách, như một nhân tố đơn độc, nhưng đo sự dối trá bằng sự dối trá khác, là điều người ta chưa tính đến. Lí thuyết thông tin - có thể cho con người một phương pháp tiếp cận sự dối trá.

Sự dối trá trước hết là một thông tin sai (disinformation). Là mọi sắp xếp bằng các điều kiện bên ngoài để thông báo được coi như một thông tin đúng, và sự dối trá chính xác cũng được sắp xếp như vậy. Nó chính xác, ngắn gọn, khúc chiết, bao quát, chi tiết, chỉ không đúng.

Thông tin sai ưa thích là không cần lên tiếng. Bằng sự im lặng của mình giá như đánh chùn toàn bộ vào hư không. Hoặc tạo ra một tiếng động thế nào đấy đừng nghe thấy. Đây là sự gây nhiễu của các đài phát thanh. Đây là thông tin sai đơn giản nhất.

Nhưng im lặng hoặc tiếng động cũng không thể làm như không có gì, thông tin sai cũng bắt buộc phải nói lên một cái gì đấy. Ít nhất gây ồn ào. Nếu kiểu gì cũng không thể thủ tiêu nhân tố có thật, nó đành phải thông báo.

Sự dối trá là một quá trình đúp: thủ tiêu sự thật và thay thế vào vị trí ấy một cái gì đó. Đôi khi nhân tố thật bị che giấu hoàn toàn, hoặc bị che giấu từng phần. Trường hợp sau là sự dối trá trong suốt, khi hiện thực lờ mờ hiện ra thông qua sự dối trá.

Thông tin, cho dù xác định đối tượng chính xác như thế nào cũng đều có hậu quả hiện sinh. Cái thông báo bị biến đổi. Thông tin đi theo hướng hiện thực, còn tin sai đi theo chiều đánh lạc hướng.

Sự dối trá là thông tin cố tình đánh lạc hướng và là thông tin lạc hướng. Trong công thức này sự dối trá thể hiện cũng đúng như thông tin. Cơ sở dựng công thức: nếu cơ sở của thông tin là nhận thức hoàn hảo về hiện thực thì cơ sở của dối trá là sự ngu dốt hoàn toàn có thể đạt tới.

Sự biến đổi của thông tin đúng, là làm tôi biết nhiều hơn về hiện thực, còn biến đổi của thông tin dối trá khiến tôi biết ít hơn về hiện thực.

Định lí ẩn của lí thuyết thông tin là chắc chắn phải có hiện thực trong đó. Trong trường hợp nếu - theo Nietzsche - không có hiện thực, chỉ có lí do, lời giải thích, lúc đó lí thuyết đổ.

Về mặt logic và ngữ pháp có thể giữa thông tin và tin sai không có khác biệt khách quan. Bởi vậy cần xem xét vấn đề hiện sinh để có thể phân biệt chúng.

Mọi chuyện sẽ không có ý nghĩa gì nếu lương tâm cắn rứt của sự phục tùng và đạo đức thẳng thừng của kẻ nổi loạn không đối lập lẫn nhau. Nếu lương tâm cắn rứt không trốn vào ẩn nấp, giấu giếm và đánh lạc hướng đến vô hạn, còn đạo đức thẳng thừng nếu - ít nhất trong chừng mực bản thân nó chưa phục tùng thế gian - không chống lại tin sai và liên tục, khăng khăng đòi hỏi thông tin tự do.

Lợi ích của sự phục tùng là về phía nó thế gian bị thông tin sai. Tất nhiên, cần thừa nhận thiệt thòi đạo đức của kẻ phục tùng. Nó thú nhận bằng cách làm cho trầm trọng hơn hay đúng hơn là nói dối. Đây là tác phẩm chống đỡ quan trọng nhất của sự phục tùng.

Phần lớn cùng lúc nó cần duy trì không phải một mà vài thông tin sai, cũng như nhất thiết nó phải là tín đồ vô điều kiện của hệ thống đang cầm quyền, bởi chi như thế nó có quyền lợi, nhưng vì trên thế gian không gì đáng ghét hơn một kẻ là tín đồ của hệ thống cầm quyền (kể cả vớiđám bạn bè tin cẩn), bởi vậy nó cần duy trì những thông tin sai rằng nó khuất phục chỉ vì những lí do miếng ăn mà thôi. Tác phẩm cơ bản của kĩ thuật sống phục tùng: cười nhăn nhở và cùng lúc cụp mắt xuống! Điều này ban đầu thực hiện khá khó khăn.

Platon, Machiavelli và George Sorel những kẻ lập ra nhà nước chính quyền hiện đại đều dạy rằng: được phép nói dối từ quyền lợi chung. Đây là nền tảng cơ bản của tất cả các hành động cai trị ngày nay: Cho phép dối trá từ quyền lợi chung.

Satjagraha trong truyền thống: không được phép nói dối, kể cả khi động đến quyền lợi của cả dân tộc.

Nhà nước hiện đại bộc lộ sự bất lực chính trị, bắt buộc phải tiếp tục hành động thông tín sai ở mức độ cao. Cách thức lãnh đạo càng tồi tệ, trong nhà nước đó càng nhiều sự giả dối.

Trước kia người ta gọi một quá trình ấu trĩ tầm thường và lỗi thời là "kiểm duyệt", đơn giản để cấm đoán và bắt im tiếng các thông tin. Hành động này xảy ra trong thời kì nếu thấy dấu hiệu của một cái gì đấy, người ta tước ngay đi tác động của nó, việc làm này thuần túy thể hiện một đạo đức tuyệt vọng nhất.

Ngày nay trong việc bảo vệ một nhà nước, không chỉ giới báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, phim ảnh, nhà hát, văn học sử dụng các thông tin sai một cách chính thức và có hệ thống, mà những kẻ phục tùng còn phải bắt buộc tiếp tục hành động nói dối tự nguyện của chúng.

Từ nghệ thuật, khoa học, kinh tế chỉ những thông tin cần thiết cho nhà nước mới được thông báo một cách đại chúng. Ngay dự báo thời tiết cũng không còn là một thông báo thông thường, trong nó cần chứa đựng những thông tin có lợi cho nhà nước. Ngày nay có lẽ chỉ thông tin lịch và giờ tàu xe chạy là còn độ đáng tin cậy.

Nhà nước hiện đại cần biến con người thành kẻ không bình thường để có thể làm bất kì điều gì với họ. Sự bất lực chính trị không điều khiển nổi kẻ có đầu óc minh mẫn. Nhưng để làm mất tinh thần con người, chưa đủ, nếu trên báo chí, đài phát thanh, khắp nơi, đến tận ngành khí tượng, tất thảy thông tin đại chúng đều bị bóp méo. Cần phải biến đổi lại hoàn toàn cả thế gian. Đây là điều đang xảy ra ngày hôm nay.

Hệ thống thông tin sai cần bắt đầu ngay từ trường học quần chúng. Nhà nước hiện đại tập trung tổng thể, chi phí, công sức to lớn không thể tưởng tượng nổi cho sự dối trá được xây dựng một cách có hệ thống, nhằm thúc đẩy sức mạnh của nó. Chỉ cần suy nghĩ về điều này là đủ, ví dụ trong ngành giáo dục cần phải làm thay đổi toàn bộ giáo viên vì bản thân lợi ích của mục đích.

Nhưng không gì quan trọng hơn là việc giả mạo lịch sử. Toàn bộ các ngành, lĩnh vực, cơ sở khoa học hành động trên cơ sở này. Người ta dạy dỗ con trẻ để nó không thể đến với số liệu thật sự, không có kinh nghiệm về hiện thực, thậm chí coi những thông tin đáng tin cậy là một tuyên truyền thù địch và coi hiện thực là một ảo tường lỗi thời và quá độ.

Nhà nước quá độ không sống bằng sự bóc lột công sức của nhân dân và sự khủng bố hèn kém mà trước tiên bằng các thông tin đại chúng sai lệch. Một nhà nước xuất hiện trong sự mất danh giá chỉ có thể duy trì nó bằng sự ô nhục.

7.

Tư tưởng đã hai nghìn năm trăm năm tuổi của châu Âu, hay còn gọi là triết học, là lí tưởng chỉ đạo đời sống, so với ý tưởng-bất tử-truyền thống là một sự bồng bột và không chặt chẽ, thậm chí mang tính chất tạm thời, bột phát, tự tiện và bấp bênh.

Người ta gọi thông tin phổ quát và đáng tin cậy về hiện thực là truyền thống.

Châu Âu không đứng trên nền tảng của truyền thống. Châu Âu không biết đến một hiện sinh đáng tin cậy, và điều này có nghĩa rằng những thông tin về các nhân tố bản chất của sự sống không đúng.

Cái mà châu Âu đã tạo dựng, từ thời Socrates và Platon, là một sản phẩm của những rối loạn lịch sử, là sản phẩm của sự khủng hoảng, trong trường hợp cứ cho là tốt nhất, đấy là một hiện tượng-trạng thái lịch sử xuất hiện tiếp theo một hiện sinh sai lầm, mà ý nghĩa của nó phần lớn còn thấp hơn nữa. Một phần cực kì lớn của nó không là gì khác ngoài một hệ thống ru ngủ rắc rối, tự bảo vệ, tự chứng thực mình của một hiện sinh giả của con người.

Sự giả dối phù hợp với một hiện sinh giả. Trong thời cổ đấy thuần túy chỉ là một sự lạc lối, nhưng bất kì giây phút nào cũng có thể quay lại với truyền thống, và các thử nghiệm quay trở lại rất có ý nghĩa này cũng đã diễn ra (Platon và nhiều linh mục khác, Plotinos, Marcus Aurelius).

Từ thời Phục hưng bắt đầu không thấy gì khác ngoài đội quân hiện sinh giả ra đời một cách điên cuồng. Từ hậu quả của việc thay thế bằng hiện sinh giả, thông tin sai trở thành đại chúng. Những hiện sinh giả cuồng tín, những kẻ bằng hoạt động và bằng những lời ba hoa nhằm bảo vệ và chứng thực sự hư hỏng của chúng, ngày càng xây dựng nên những sự giả dối vĩ đại quy mô hơn. Hiện sinh hư hỏng không thể xây dựng nổi cái gì ngoài một hệ thống dối trá. Càng hư hỏng hệ thống đó càng lớn.

Sự dối trá (thông tin sai) không phải tội ác và sai lầm logic mà là sự hư hỏng bản thể học. Một sự nhố nhăng, trước hết là sự không nghiêm túc trước cái chết. Một hiện sinh giả dối và một hệ thống dối trá phụ thuộc nhau. Đến một bằng chứng cũng không có, không có bất cứ khả năng nào để có thể hình dung nổi, có thể thu thập được các số liệu chân thực của sự tồn tại một hiện sinh xác thực.

Châu Âu đến giữa thế kỉ hai mươi đã đạt đến mức, sau tất cả những điều trên không ai còn ngạc nhiên nữa, thậm chí cần phải ngạc nhiên nếu nó không đạt đến mức ấy. Vô ích nhắc đến khủng hoảng. Toàn bộ chỉ còn như sau, nếu ai còn cho rằng đây là một sự phát triển, người đó có thể nghi ngờ đầu óc mình không bình thường.

Có một quy luật là kẻ nào đi chệch khỏi hiện thực thật sự, dù vì bất kì lí do gì và ở mức độ nhỏ nhất nào, kẻ đó cũng đánh mất khả năng thông tin về các dữ liệu thật sự của sự sống.

Sự sống thật sự chỉ mở ra dành cho một hiện sinh thật sự.

Hiện sinh giả không hiểu và không thể hiểu nổi những nhân tố cơ bản của sự sống. Con người trong tri thức về hiện thực chỉ và duy nhất có thể tham dự vào việc thực hiện một hiện sinh đích thực. Không bao giờ có chuyện một hiện sinh hư hỏng lại có thể biết thư thập những thông tin về một hiện thực xác thực. Một hiện sinh giả bắt buộc phải sống trong giả dối, hay nói cách khác một kẻ dối trá bắt buộc phải sống trong một hệ thống dối trá.

Người ta gọi con đường và phương pháp bước ra khỏi hệ thống dối trá, cùng lúc bước ra khỏi hiện sinh hư hỏng là sự hiện thực hóa. Gọi là hiện thực hóa bởi vì con đường và phương pháp này dẫn dắt tới sự thực hiện một hiện sinh xác thực, và dẫn tới khả năng, bản thân hiện thực biết nhận thức ra hiện thực.

Nietzsche là người dạy chúng ta hãy nghi ngờ tất cả các loại lí tưởng, và dạy chúng ta quay trở lại như thế nào với con người coi lí tưởng là bản thân mình. Ruckschluss auf den, der es notig hat. Chúng ta biết hệ thống lí tưởng (idealizmus) là hiện sinh giả, nhưng chúng ta cũng biết chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa thực nghiệm và chủ nghĩa duy lí và các loại chủ nghĩa châu Âu khác đều như vậy, hay nói đúng hơn đều là sản phẩm bắt buộc của con người bị thông tin sai, chính vì thế là một hệ thống dối trá.

Giờ đây cái cần làm sau Nietzsche, không đến mức con người sẵn sàng cân nhắc lại cả hệ thống ví dụ như Jaspers đã làm với Descartes và chủ nghĩa duy lí khi cho rằng triết học này bắt nguồn từ bản năng quyền lực vô cảm của một tham vọng héo hon. Cái đầu tiên giờ đây cần thực hiện là tìm cho ra trong các hệ thống lỗi cơ bản, sai lầm tiên đề (proton pszeudosz), tìm ra sự dối trá đầu tiên bị che giấu trước hệ thống được xây dựng, hoặc đã bị phủ nhận, hoặc bị quên lẵng.

Đây là bước đầu tiên dẫn về phía tự sát. Là sự lừa bịp đầu tiên, để nó tự cho phép mình vì một cái gì đấy (có trời biết) để thực hiện bề nổi, để cho rằng chỉ đùa giỡn và có thể tha thứ, nơi có thể vì quyền lợi, vì sự kiêu ngạo, hoặc đơn giản chỉ vì sự chiều chuộng mình đặt một cái gì đó vào trung tâm, rồi bắt đầu bảo vệ cái đó, thế là từ viên đá đầu tiên nó đặt tiếp thêm viên thứ hai, rồi cứ thế, và tòa nhà đã xây xong, nhưng nó không biết rằng, toàn bộ hệ thống được chuẩn bị để bằng điều này, chỉ để bảo vệ một bản chất, một sự thật bí ẩn nằm trên cơ sở một sự dối trá giấu giếm sâu sắc duy nhất.

Cần thiết để con người từ đầu đến cuối thử thực hiện một quá trình kết tinh, khi từ sự dối trá sơ khai xây dựng lên hệ thống và thế giới quan - tất nhiên sự dối trá càng sâu và càng độc hại, càng trong những khái niệm tinh tế - và thử đến tận cùng xem hiện sinh bị phá vỡ như thế nào, bởi, như mọi người đều biết, tất cả mọi sự dối trá đều làm tan vỡ tính chất cá nhân của con người.

Ở đây cần viện đến sự cứu trợ của Baileides, kẻ đặc biệt tỏ ra thận trọng với con người xây dựng lên một hiện sinh giả như thế. Baileides nói, hệ thống này tốt chỉ vì, để kẻ kia tìm kiếm thêm những vũ khí lợi hại hơn và bằng chiến thuật kĩ lưỡng hơn bảo vệ sự dối trá riêng của nó. Nó sẽ rơi vào mâu thuẫn phân vân với chính nó và với thực tại sâu sắc hơn, nó sẽ quay cuồng hơn nữa với chính bản chất riêng của nó, và ngày càng xa rời sự thực chất.

Sự dối trá lúc này không còn là một hành vi một lần và ngoại lệ nữa, mà đã trở thành sự thực hành đời sống một cách có hệ thống, thậm chí là một kĩ thuật được gọt giũa và thành hàng hiệu. Cho dù sự dối trá chỉ một lần cũng không thể hình dung nổi nếu thiếu vắng sự đánh mất bản thể. Giờ đây điều này cũng chính là sự biến mất từ từ của hiện hữu người.

Hegel. Con người ngạc nhiên, ai sống hộ chính bản thân họ.

Baileides tất nhiên là một sự ngây thơ cổ đại khi ông cho rằng hiện sinh giả chi bộc lộ trong tỉ lệ đáng kể và có hệ thống nếu người ta phản đối sự dối trá đầu tiên từ bên ngoài. Thực ra sự chống đỡ bên ngoài không cần thiết. Con người, trước khi một kẻ khác nhận ra, đã tự biết nó nói dối, và bắt đầu tự bảo vê bản thân, và bắt đầu tự trốn tránh trước bản thân, vào các lí thuyết và các điều kiện, và bắt đầu tự biện minh.

Đây là chứng tự phát cuồng, mà con người tiến hành với bản thân và trong bản thân, một tác phẩm cưỡng bức. Từ sự dối trá một lần và ngoại lệ sẽ xảy ra hành vi như thế này, và từ đấy thành hệ thống. Từ đấy sẽ thành tập quán và đặc tính. Con người từ từ dựng hàng rào bản thân, từ bỏ sự truyền tin sơ đẳng, hay nói cách khác chỉ mặt nạ lên tiếng, chỉ quan điểm, thế giới quan và triết học. Âm thanh của nó cũng tự đánh mất bản thân, nền tảng phát âm thông tin vang lên một cách giả dối, khiến một đôi tai đã nhập định nhận ra ngay rằng nó còn tự nhiên hơn cả tự nhiên, trực tiếp hơn cả trực tiếp và thuyết phục hơn cả thuyết phục.

Nếu người nào chưa đủ kinh nghiệm trên lĩnh vực này, hãy thử kiểm tra lại tầm chân trời - ý nghĩa của các câu nói. Họ sẽ nhận ra, âm thanh giả dối kêu vang trống rỗng, cùng lúc trơn tru và lấy lòng, bơi trong màu sắc âm ấm và làm ngây ngất, tâng bốc và quyến rũ, nhưng không phải như một bức họa, mà như một màn trình diễn sặc sỡ nhiều sắc màu ngày Chủ nhật. Khi con người dối trá, luôn niềm nở hơn con người những lúc bình thường.

Trong sự dối trá con người ngày càng kém cỏi dần trong bản thể của nó, cái nó nói, ngày càng chỉ là sự thay thế. Không! Con người không quen chờ đợi để người ta tấn công từ bên ngoài. Lương tâm của nó bắt nó tự bảo vệ mình trước bản thân. Nó cần một quá trình chứng minh thường xuyên và có hệ thống, để có thể chịu đựng được chính bản thân nó.

Một câu hỏi lý thú nổi lên ở đây là phải chăng cái mà từ thời Platon người ta đặt tên là biện chứng, cái là thành tựu lịch sử của triết học châu Âu, phải chăng không giống hay sao (một cách đáng sợ) với cuộc tranh luận tự thân sống-chết của con người với lương tấm của nó, và phải chăng cái quá trình logic mà sau này người ta gọi là bằng chứng, không phải cần tìm nguồn gốc của nó ở đây?

Câu hỏi này hợp lệ bởi một khi nào đó một ai đó chứng minh một cái gì đó, không bao giờ một chứng cớ phân vân lại thắng thế, mà nó đặt lên hai vai một tác phẩm có logic. Và sự chứng minh, cũng như phép biện chứng người Hi Lạp tìm ra, nhưng không phải Orpheusz mà là các luật sư, các nhà hùng biện chính trị, kẻ ngụy biện.

Thế giới quan chỉ là chừng này: một hệ thống của sự giả dối, hoặc không phải là đôi khi hay ngoại lệ, mà khi con người suy ngẫm và một cách có hệ thống, cân nhắc và can đảm đưa mình vào một hướng, không phải vì quyền lợi, mà là hậu quả của hoàn cảnh sai lầm bận rộn trong đời sống. Nghĩa là, không là gì khác ngoài một sự thiếu nghiêm túc của một hệ tri thức châu Âu gọi là thế giới quan, là thành lũy của sự dối trá trung tâm trong đời sống một con người mang một hiện sinh giả. Thế giới quan là kết quả của danh dự bắt buộc đặt lên con người, nếu nó đã một lần nói dối, hãy kiên trì giữ vững, là danh dự cơ bản để bảo vệ sự nói dối của nó chống lại mọi cuộc tấn công.

Jarry duy trì quyền được phép nói dối cho mình. Điều này cần vì con người từng bước có nhu cầu về sự thật, và cũng chỉ vì có thể tha thứ cho kẻ khác, còn với bản thân mình cần nghiêm khắc hơn. Ngoại lệ có thể nói dối, để con người nói chung hãy trở nên có danh dự.

Hạt giống của hệ thống-dối trá không phải luôn luôn là điểm dối trá nhất của hiện sinh, nhưng luôn luôn là nơi con người chịu đựng nhiều nhất vì sự hư hỏng riêng của nó.

Sự liên tục của dối trá. Như chức năng đời sống. Thế gian, như mọt tổ chức sự dối trá. Như một hệ thống-đánh lạc hướng. Như một tập quán. Như thể hiện sinh thực sự chỉ có thể có bằng cái giá bán thế gian đi.

Con người tưởng nó đang tiếp tục nhận thức, biết đâu chỉ là đang tìm cách bảo vệ và chứng thực chống lại lương tâm cắn rứt.

Nó hạ thấp bản thân với (cái gọi là) vì đời sống. Một khái niệm cổ điển: bị tổn thương vì sự sống còn.

Một đời sống bị dối trá. Một hiện sinh giả.

Sự giả dối không phải là hậu quả trực tiếp của sự khuất phục. Nếu nó tuyên bố công khai là nó nói dối, nó có thể cứu được bản thân.

Tôi nói dối vì cuộc đời và của cải của tôi. Nhưng để cả cuộc đời tôi không như dối trá, thì ý nghĩa của việc tôi làm đừng bị giấu kín trước tôi, tốt nhất là tôi thổ lộ ra, vì người ta sẽ nhìn thấy rõ, và tôi có thể còn lại trong danh dự.

Con người trong hoàn cảnh này đừng sống trong sự tự lừa dối, như vậy hệ thống của nó vẫn còn lại trong sạch.

Không bao giờ có điều này.

Đi kèm với sự khuất phục, là con người tự đánh lạc hướng bản thân nó.

Đạo đức thẳng thừng và hiện sinh giả.

Điều kiện đủ - các lí thuyết. Sự trả thù, ressentiment.

Dân chủ. Chủ nghĩa xã hội - v.v. và v.v.

Khi sự giả dối đã tổ chức quá sâu trong một mức độ, về mặt tri thức không thể phê phán được nữa, lúc đó nó còn được củng cố bằng việc điều này dường như không đúng sự thật, nó biến thành thần tượng.

Câu hỏi ngày càng trở nên đe dọa hơn, phải chăng sẽ còn có sự thật, khi tất cả mọi người đều nói dối.

Bởi vì sống thật và nói thật phụ thuộc vào nhau nên một đời sống giả dối và lời giả dối cũng không thể tách rời nhau. Nhưng hiện sinh dối trá và hệ thống giả dối không thể xác định được bằng các khái niệm suy nghĩ thông thường. Về mặt đạo đức nó không tốt, không xấu, về mặt logic nó không sai cũng không đúng. Nhưng bằng các khái niệm sinh học cũng không thể xác định. Đời sống là một cái gì đặc thù, trong sự dối trá nó cũng sinh sôi nảy nở, đôi khi có vẻ như tốt hơn. Đấy là sự rậm rạp đậm đặc của đời sống bị hành hạ bởi sự dối trá. Từ sự dối trá người ta béo phì ra.

Người ta luôn luôn đặt con người bên cạnh lí tưởng. Nhưng trong thực tế con người không đứng trước sự đòi hỏi của lí tưởng, mà trong sự sống của nó hay bên trong lí tưởng, hoặc bên ngoài lí tưởng, thật sự và thực tế là: một thực thể tồn tại với các giá trị hoàn toàn hoặc không hoàn toàn. Đây là sự khác biệt giữa đời sống hiền hòa-chắc chắn-thực chất hoặc đời sống vô nghĩa-vô giá trị-phi bản thể. Đây là sự khác biệt giữa hiện sinh và hiện sinh giả.

Theo Nietzsche, cái mà con người nói dối với kẻ khác, không đáng kể, chẳng là cái gì so với cái con người tự nói dối mình. Và ngày nay, cảm ơn ngành tâm lí học, mọi biểu hiện đều chỉ ra cho thấy, chúng ta đang ở thời kì chín muồi của sự dối trá. Tâm lí học là một phép, ta gọi là chống-yoga, không hề là một nhận thức mang tính người và là phương pháp tự phê bình, trái lại, nó dạy con người làm thế nào để tự dối mình bằng những tích cực dễ dàng nhất, và làm thế nào dối trá với bên ngoài những đặc tính gây ảnh hưởng nhất. Tâm lí học là một phép của sự tự lừa dối bản thân mang tính chất hệ thống,

Cái gì xảy ra trong sự tự lừa dối bản thân? Rằng, con người đã đánh lạc hướng bản thân, tránh xa bản chất thật của nó. Sự đại chúng của tâm lí học phải biết ơn điều này, rằng nó không chỉ mang đến các thể loại phấn loại khiến con người chết ngạt trong số lượng và các mức độ vô tận bởi những đặc tính bí ẩn bên trong dành cho nó, ai càng thiểu năng, kẻ đó càng chết. Ngày nay tí tưởng của con người không bao giờ được lấy ra từ các tiểu thuyết nữa mà từ các anh hùng tâm tí học, Freud và Jung, Adler và Rorschach và Szondy, những hình thức cao cấp tự nói dối mình.

Tâm lí học mang đến cho cách thực chứng thực tự thân, cho sự ẩn nấp và các trò trưng diễn một trò chơi phức tạp, những thủ thuật tự bảo vệ lươn lẹo, những phương pháp ngụy biện đáng ngờ thấp kém mang tính hướng ngoại. Tâm lí học gặt hái thành công bằng hoàn thiện tà thuật tự lừa dối mình một cách không thể tưởng tượng nổi. Chúng ta không đối mặt với các anh hùng sử thi nữa mà với các anh hùng tâm lí, những kẻ tự nói dối thông qua những hướng nội, những phân tâm, những ưu việt.

Về những kẻ này, nói như Nietzsche, chỉ nên bịt mũi khi nói về họ, bởi vì họ không chỉ tự diễn vai trò hoàn hảo với bản thân bằng sự thỏa mãn không tấn công nổi, khinh thường tất cả những ai bị ảnh hưởng bởi tính chất tiêu cực của vai trò này, mà họ còn tỏ ra không bao giờ nhầm lẫn nữa bởi cái họ làm đã trở thành khoa học. Loại người này không phương cứu chữa. Không hề ngớ ngẩn. Chỉ hiện sinh giả. Kẻ nguy hiểm không phải kẻ nói dối từ bài bản mà là kẻ không cần sách, bản năng hóa sự nói dối. Những kẻ mà tâm lí bên trong là phản xạ. Đây là những bậc thầy tâm lí, những kẻ đã thực hiện xong hoàn toàn kĩ thuật tự lừa dối bản thân.

Kĩ thuật của sự tự lừa dối bao giờ cũng đi trước kĩ thuật của sự tự phê bình. Cái phi lí trong thời đại của tôn giáo và triết học xưa, trong thời đại nay của khoa học đã trở thành cái hằng ngày, sự tự lừa dối hiện diện một cách không thể lật tẩy được nữa. Tất nhiên trong trường hợp này sự dối trá không phải tội ác, không phải là bệnh tật cũng không phải là lỗi logic. Sự lừa dối là một hiện sinh không trong sạch, và điều này chỉ có nghĩa như sau: con người tự làm hỏng mình, chứ không phải làm hỏng người khác trước nhất.

Con người đi với ngành tâm lí học, giống như một nhà nước nhận ra đội ngũ lãnh tụ của mình do kẻ thù trả lương.

Tâm lí học xuất hiện để đi tìm quá trình giải quyết sự lừa dối, một quá trình trong hiện sinh giả và trong những sự giả dối toàn bộ - dù có ý thức hay vô thức - lựa chọn ra sự đánh lạc hướng từ con người và biến nó thành cái vô hại. Trong các phương pháp phê phán và tự phê phán của tâm lí học người ta tưởng rằng bằng các phương pháp này có thể cứu vớt hiện sinh và tư tưởng, có thể vô hiệu hóa sự dối trá. Thế là ban đầu tâm lí học là một dạng khử trùng một tạo vật được tiếp diễn bởi quyền lợi vệ sinh bên trong, một sự lập lại danh dự sơ khai (Nietzsche: trong tác phẩm Intellektuelle Redlichkeit) và là sự giải tỏa toàn bộ những hành vi đánh lạc hướng.

Nhưng quá trình ngược lại đã xảy ra khi: hóa ra, nếu hiện sinh thật không thực hành tâm lí của nó, nó lập tức quay ngược lại bản thân, hoạt động phê phán và tự phê phán bị thay thế bằng một quá trình mù mờ và trốn tránh. Khoảng một trăm năm trở lại đây là thời điểm đen tối nhất trong lịch sử nhân loại. Nếu đằng sau những công trình soi rạng không có một hiện sinh thật sự, chỉ sau một thời gian ngắn bản thân tâm lí học biến đổi thành một kĩ thuật che đậy, và không còn là quá trình "khử" giả dối nữa mà từ từ đi bảo vệ sự giả dối.

Điều này liên quan tới phân tâm học, tâm lí học chiều sâu, tâm lí học cá nhân, toàn bộ tâm lí học lâm sàng và hệ thống kiểm tra. Thay vì lật mặt nạ của sự đánh lạc hướng, và khởi động quá trình hiện thực hóa trong con người, tâm lí học củng cố sự đánh lạc hướng trong con người và cũng bằng phương pháp đánh lạc hướng đó chứng thực sự hư hỏng của nó, cất giấu sâu hơn hiện sinh giả, xây dựng rào lũy bảo vệ và chứng minh về mặt tâm lí.

Ở một vài ngành tâm lí học, nhất là phân tâm học, quá trình này diễn ra cực kì nhanh chóng. Đến mức ngày nay phân tâm học trở thành một quá trình ẩn nấp an toàn nhất, một kĩ thuật che đậy hiệu quả nhất, là sự bảo vệ mọi giả dối chắc chắn nhất là sự đánh lạc hướng tốt nhất là quá trình nhầm lẫn hiện sinh giả có hiệu lực nhất. Cũng như vậy ngoại trừ thần học nguyên thủy của Kierkegaarđ, lần lượt tất cả đều chung một số phận, chủ nghĩa hiện sinh hiện đại cũng vậy, mặc dù về bản chất nó từng hứa hẹn sẽ là một phương pháp giải tỏa sự giả dối và hiện thực hóa thực tại,

Ngày nay chủ nghĩa hiện sinh cũng đã biến đổi thành một kĩ thuật che đậy, không bao giờ còn phơi bày hiện sinh giả ra nữa, mà trong chủ nghĩa này con người lẩn trốn và bảo vệ những đời sống giả. Chủ nghĩa hiện sinh giờ đây về mặt chiến thuật là một vị trí thuận lợi nhất để bảo vệ những hiện sinh giả của con người.

Đại khái đây là một số lí thuyết để có thể tiếp cận sự giả dối tuyệt đối ở châu Âu, hoặc khi một câu hỏi nổi lên rằng có thể nói dối sự thật được hay không? Kĩ thuật lật tẩy biến đổi thành kĩ thuật dối trá cũng có sự thật của nó, giống như kẻ nói dối có sự thật của nó. Quá trình tự lừa dối bản thân này là một mức độ cao và phức tạp, mà mọi thí nghiệm thử lật tẩy điều này đều bị bật trở lại.

Tất nhiên việc một con người biết lần theo từng hành vi tinh tế của hoạt động tự đánh lừa mình không có, bởi vì cái đặc trưng cho sự tự đánh lừa là một hành vi không thô bạo và nổi bật, ngược lại khó có thể nhận ra, nó là cái bóng, là sự chuyển động tinh tế, như cách thức bò của con sâu.

Nhưng điều này không quan trọng. Điều cần thiết và là dẫn chứng: là con người cần duy trì bản thân mình trong một nhiệt độ thường xuyên có thể của danh dự nhận thức (tác phẩm Intellektuelle Redlichkeit) và điều này giá trị hơn điều mà trong khoảnh khắc từ lương tâm cắn rứt của một kẻ khuất phục và từ đạo đức thẳng thừng của một kẻ nổi loạn một con người thảm hại đạt được.

Câu hỏi duy nhất của hệ thống đời sống hiện đại: Con người làm thế nào để thoát khỏi những sự dối trá mà nó tự xây xung quanh mình, tự củng cố trong bản thân mình, về mặt cá nhân, xã hội, trong âm nhạc, nghệ thuật, tư tưởng, trong sự đánh giá giá trị và trong tầm nhìn của nó.

Một đời sống bị lừa dối và những hiện sinh giả lớn lên từ đấy.

Một hệ thống phỉnh lừa tuyệt đối, thứ hệ thống ngay đến một điểm đúng duy nhất cũng không có. Thứ ngay trong bản thân nó phi vấn đề và không thể tấn công nổi. Là chứng thực và là một hệ thống biện minh cho một đời sống phỉnh lừa tuyệt đối.

Là sự dối trá duy nhất.

Bình luận