Ác Quỷ Nam Kinh

Chương 61


Nam Kinh, ngày 21 tháng Mười hai năm 1937

Nhớ lại cái giây phút đó mới khó khăn làm sao, giây phút mà tôi đột ngột cảm thấy vô cùng thanh thản và tràn trề hy vọng. Sao vạn vật có thể tĩnh lặng đến thế trong vài giây phút ngắn ngủi trước khi tiếng la hét của Thu Kim vang lên khắp khu rừng.

Tôi ngẩn người nhìn xung quanh như thể ai đó vừa vô tình gọi tên tôi rồi cau mày như thể tôi không biết được mình vừa nghe thấy gì. Và rồi Thu Kim lại kêu lên lần nữa, tiếng kêu ngắn ngủi và đau đớn như một con chó đang bị đòn.

“Thu Kim?” Như một kẻ mộng du, tôi quay người lại và bắt đầu gạt đám cành cây quay về chỗ cũ. Có lẽ cô ấy sinh sớm hơn dự kiến. “Thu Kim?

Không có tiếng trả lời. Tôi rảo bước nhanh hơn. Tôi leo lên dốc và lao tới chỗ tôi ngồi trông Thu Kim ban nãy. “Thu Kim?” Im lặng. “Thu Kim?” Tôi gọi to hơn, trong giọng nói thoáng nét hoảng hốt. “Thu Kim. Trả lời tôi đi!”

Vẫn không có tiếng trả lời, và tôi bắt đầu cảm thấy sợ hãi thực sự. Tôi bắt đầu chạy. Chân tôi trượt trên mặt dốc, tuyết trên cành thông rơi lả tả xuống người tôi. “Thu Kim!”

Cạnh gốc cây, chiếc xe kéo đã bị lật ngược trở lại, chăn màn và đồ đạc của chúng tôi bị vứt tung tóe xung quanh. Trên mặt đất có những vết chân mờ mờ dẫn vào trong rừng.

Tôi đi theo những dấu chân này, vừa đi vừa phải cúi đầu tránh cành cây quật vào mặt đau rát. Đi được vài mét thì những vết chân này bắt đầu thay đổi. Tôi đứng khựng lại thở dồn dập, tim đập thình thịch. Dấu chân trở nên lớn hơn, tuyết ở xung quanh đó bị cào xới như thể Thu Kim đã ngã xuống đây vì đau. Hay là đã xảy ra một cuộc vật lộn. Có cái gì đó cộm lên dưới chân tôi. Tôi cúi xuống và lôi nó lên, xoay nó trong tay mình. Một miếng đai mỏng đã sờn cũ. Tâm trí tôi mụ đi, một nỗi kinh hoàng xâm chiếm lấy tôi. Đính trên miếng đai là hai chiếc thẻ quân nhân của Quân đội Thiên hoàng Nhật Bản.

Thu Kim!” Tôi hét lên. “THU KIM!”

Tôi đợi. Nhưng vẫn không nghe thấy ai đáp lại. Ở đây, giữa những thân cây trơ trọi chỉ còn lại mình tôi, lắng nghe hơi thở dồn dập và tiếng mạch đập thình thịch của chính mình. “THU KIM!” Tiếng hét của tôi va vào thân cây rồi từ từ mất hút trong rừng thẳm. Tôi nhìn ngang ngửa hy vọng tìm thấy một dấu vết nào đó. Chúng đang ở đâu đó quanh đây, những tên lính Nhật đang giữ Thu Kim và dõi theo tôi với những đôi mắt vằn máu, đâu đó sau những gốc cây này, với những cây súng lưỡi lê sáng loáng...

Ở đâu đó rất gần ngay sau lưng tôi, ai đó vừa thở hắt ra. Tôi quay vụt lại hai tay vung lên trong tư thế sẵn sàng nhảy chồm về phía trước. Nhưng không có gì ngoài những thân cây màu đen, ẩm mốc, tuyết bám đầy trên cành. Tôi hít thở thật sâu, tai dỏng lên nghe ngóng. Có ai đó đang ở đây. Rất gần đây. Rồi tôi nghe thấy tiếng lá khô rơi xào xạc, khoảng ba mét phía trước, nơi mặt đất hơi lún xuống, tiếng cành cây gãy răng rắc, tiếng máy móc và một người lính Nhật bước ra từ sau một gốc cây.

Anh ta không có dáng vẻ của một người đánh trận, chiếc mũ sắt bọc lưới treo lủng lẳng ở thắt lưng bên cạnh ống đạn, quân hàm của anh ta vẫn còn nguyên. Anh ta không cầm súng mà cầm một chiếc máy quay phim, ống kính chĩa thẳng vào mặt tôi. Chiếc máy quay kêu ro ro, cán quay tay chuyển động đều đều. Người quay phim ở Thượng Hải. Tôi nhận ra anh ta ngay lập tức. Người đã quay những thước phim về lính Nhật khoe chiến tích ở Thượng Hải. Anh ta đang quay hình tôi.

Chúng tôi im lặng đứng như thế trong vài giây, tôi nhìn anh ta còn ống kính của anh ta thì chĩa thẳng vào tôi. Rồi tôi lao tới. “Cô ấy đâu?” Anh ta lùi lại một bước, chiếc camera vẫn vững vàng trên vai và đúng lúc đó tôi nghe thấy tiếng Thu Kim gọi từ phía xa, thân thiết và mong manh.

“Trùng Minh!”

Tôi sẽ nhớ mãi cái âm thanh đó. Tôi sẽ mơ về nó, sẽ nghe thấy nó khi tôi lạc trong những khoảng không trắng toát lạnh lẽo của những giấc mơ.

“Trùng Minh!”

Tôi bỏ mặc người quay phim đứng đó và lao vào trong rừng theo tiếng gọi của Thu Kim, tuyết lúc này đã cao ngập gối. “THU KIM!”

Tôi lội tuyết, nước mắt giàn giụa, sẵn sàng chờ đợi tiếng đạn rít qua đầu. Nhưng cái chết còn dễ chịu hơn rất nhiều so với những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Đằng trước, tiếng loảng xoảng không lẫn vào đâu được của lưỡi lê rung lên trong gió lạnh. Và tôi nhìn thấy chúng. Hai người bọn chúng đang đứng cách tôi khoảng một trăm mét về phía trước, bên cạnh một con đường mòn, quay lưng lại phía tôi trong những chiếc áo bành tô màu cỏ úa, đang nhìn chằm chằm vào cái gì đó trên mặt đất. Một chiếc xe máy dựa vào gốc thông già đen đúa ven đường. Một tên quay lại nhìn tôi vẻ hốt hoảng. Hắn ta đội mũ vải mềm và cũng không có vẻ gì là sắp đi đánh trận, tuy nhiên, chiếc lưỡi lê của hắn đã giắt vào súng trong tư thế sẵn sàng. Trên mặt hắn ta có một vệt máu như thể Thu Kim đã cào vào mặt hắn khi hai người vật lộn với nhau. Khi tôi nhìn hắn, mắt hắn cụp xuống vẻ hổ thẹn. Trong một giây phút ngắn ngủi, tôi nhìn thấy con người thật của hắn, một đứa trẻ vị thành niên tơi tả vì chiến trận, đã không còn gì ngoài một cái đầu trống rỗng, chỉ còn tỉnh táo nhờ các loại thuốc an thần. Hắn ta không hề muốn có mặt ở đây.

Nhưng còn người đàn ông kia. Lúc đầu hắn ta không thèm quay lại. Trước mặt hắn, Thu Kim đang nằm ngửa trên tuyết, dựa vào một thân cây. Một chiếc giày của cô ấy bị tụt ra ngoài, bàn chân trần tím ngắt vì lạnh phơi ra trên tuyết. Tay cô ấy đang cầm một con dao nhỏ, cán làm bằng sơn mài chĩa ra trước ngực. Đó là con dao sắc thường dùng để gọt xoài. Cô ấy giữ chặt chiếc dao bằng cả hai tay và chĩa nó về phía hai người đàn ông.

“Hãy để cô ấy yên,” tôi nói. “Hãy đứng im đó.”

Người đàn ông kia vẫn im lặng khi nghe tiếng tôi nói. Hắn ta từ từ đứng thẳng người lên. Chậm rãi quay lại nhìn thẳng vào tôi. Hắn ta không cao, cũng chỉ cỡ như tôi nhưng đôi mắt của hắn thật đáng sợ. Tôi bước nhanh tới chỗ hắn. Ngôi sao viền chỉ duy nhất trên chiếc mũ của hắn lóe sáng dưới ánh mặt trời, chiếc bành tô cổ viền lông của hắn mở tung, áo sơ mi của hắn bị rách, và tôi có thể nhận thấy đó chính là vị trí của miếng phù hiệu mà tôi đã tìm thấy. Hắn ta ở gần tôi tới mức tôi có thể ngửi thấy mùi rượu sake uống đêm qua toát ra từ mồ hôi của hắn và một thứ mùi hôi hám lưu cữu trên quần áo của hắn. Mặt hắn xám ngoét, bệnh hoạn, đầm đìa mồ hôi.

Ngay lập tức tôi nhận ra hắn. Những chai lọ vấy máu xếp thành hàng trong nhà máy dệt. Chày, cối và những cuộc săn đuổi bất tận… Vì một phương thuốc. Đó là gã đàn ông bệnh tật mà mọi thứ thuốc của quân đội đều bất lực, gã đàn ông bệnh tật đã tuyệt vọng tới mức sẵn sàng thử bất kỳ phương thuốc nào, kể cả việc ăn thịt người. Tên diêm vương của Nam Kinh.

Bình luận